Thứ Năm, Ngày 23 tháng 07 năm 2026,
Người cao tuổi cần cảnh giác với loãng xương gây gãy xương
D.Ngân - 17/07/2026 20:30
 
Chỉ sau một lần bê vật nặng, người phụ nữ 73 tuổi bất ngờ xuất hiện cơn đau dữ dội vùng thắt lưng. Thăm khám tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, các bác sỹ xác định bệnh nhân bị loãng xương nặng kèm xẹp đốt sống.

Đau lưng sau khi bê vật nặng tưởng chỉ là chấn thương thông thường, nhưng với người cao tuổi, đó có thể là dấu hiệu cảnh báo của loãng xương nặng. Trường hợp của bà V.T.C. (73 tuổi, Hà Nội) là một ví dụ điển hình.

Theo thông tin từ Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, khoảng một tuần trước khi nhập viện, bà C. xuất hiện đau hai khớp gối nhưng không có tiền sử chấn thương.

Đến một ngày trước khi đi khám, sau khi bê nhấc vật nặng, bà đột ngột đau vùng cột sống thắt lưng. Cơn đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi nên gia đình đưa bà đến bệnh viện kiểm tra.

748763687_3514976551986007_6314526965767600689_n
Hình ảnh thoái hóa các đốt sống, đĩa đệm thắt lưng; Phồng nhẹ đĩa đệm L4/5; L5/S1 không chèn ép rễ thần kinh được ghi nhận khi chụp MRI.

Qua thăm khám, các bác sỹ ghi nhận bệnh nhân có thể trạng gầy với chỉ số BMI 17,56, đau vùng cột sống L4-L5, co cứng cơ cạnh sống và có dấu hiệu thoái hóa khớp gối hai bên.

Để xác định nguyên nhân, bệnh nhân được chỉ định thực hiện các thăm dò chuyên sâu. Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cho thấy tình trạng vỡ xẹp thân đốt sống L4 kèm phù tủy xương, thoái hóa cột sống và đĩa đệm thắt lưng, phồng nhẹ đĩa đệm L4-L5 và L5-S1 nhưng chưa gây chèn ép rễ thần kinh. Siêu âm khớp gối ghi nhận có dịch khớp kèm dày màng hoạt dịch, phù hợp với tình trạng thoái hóa khớp.

Đặc biệt, kết quả đo mật độ xương cho thấy tình trạng loãng xương ở mức rất nặng. Chỉ số T-score tại cột sống thắt lưng lên tới -4,8, trong khi cổ xương đùi trái và phải lần lượt là -2,3 và -2,2. Đánh giá theo thang điểm FRAX, nguy cơ gãy xương chung của bệnh nhân là 9,6%, còn nguy cơ gãy cổ xương đùi đạt 4,7%.

Theo ThS.BSNT Lê Thị Dương, ở người cao tuổi, hình ảnh xẹp thân đốt sống trên MRI không chỉ gặp trong loãng xương mà còn có thể xuất hiện ở các bệnh lý ác tính như đa u tủy xương, ung thư di căn xương hoặc các khối u nguyên phát của cột sống.

Vì vậy, MRI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá đặc điểm phù tủy xương, hình thái thân đốt sống, tổn thương cuống sống, phần mềm cạnh sống cũng như mức độ xâm lấn của tổn thương, từ đó giúp phân biệt gãy xẹp đốt sống do loãng xương với các nguyên nhân ác tính để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Từ kết quả thăm khám và cận lâm sàng, các bác sỹ chẩn đoán bệnh nhân mắc loãng xương nặng, xẹp cấp đốt sống L4, thoái hóa và phồng đĩa đệm cột sống thắt lưng, đồng thời bị thoái hóa khớp gối hai bên.

Bệnh nhân được điều trị bằng truyền Zoledronic acid (Aclasta) mỗi năm một lần, kết hợp bổ sung canxi, vitamin D, sử dụng thuốc chống viêm giảm đau không steroid, thuốc giãn cơ và đeo đai cột sống nhằm giảm đau, hỗ trợ phục hồi và hạn chế nguy cơ gãy xương tái phát.

Theo ThS.BSNT Lê Thị Dương, loãng xương là bệnh lý phổ biến ở phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi. Khi mật độ xương suy giảm nghiêm trọng, cấu trúc xương trở nên giòn và dễ gãy. Chỉ một va chạm nhẹ hoặc những hoạt động thường ngày như cúi người, bê đồ vật hay thậm chí ho mạnh cũng có thể dẫn đến gãy xương.

Theo khuyến cáo của Hiệp hội Nội tiết Lâm sàng Hoa Kỳ (AACE) năm 2020, người bệnh được xếp vào nhóm nguy cơ gãy xương rất cao nếu có một trong các yếu tố như gãy xương trong vòng 12 tháng gần đây, gãy xương khi đang điều trị loãng xương, gãy nhiều vị trí hoặc từ hai đốt sống trở lên, chỉ số T-score ≤ -3,5 SD, có nguy cơ té ngã cao hoặc theo thang điểm FRAX có nguy cơ gãy cổ xương đùi trên 4,5% hoặc nguy cơ gãy các xương chính trên 30%.

Trường hợp của bà V.T.C. hội tụ nhiều yếu tố nguy cơ khi chỉ số T-score tại cột sống thắt lưng lên tới -4,8, đã xảy ra xẹp đốt sống và nguy cơ gãy cổ xương đùi theo FRAX đạt 4,7%. Đây đều là những tiêu chí cho thấy người bệnh thuộc nhóm nguy cơ gãy xương rất cao và cần được điều trị tích cực để hạn chế các biến chứng tiếp theo.

Theo bác sỹ Dương, mục tiêu điều trị loãng xương không chỉ là cải thiện mật độ xương mà quan trọng hơn là phòng ngừa gãy xương. Bởi một khi đã xảy ra gãy xương do loãng xương, người cao tuổi có nguy cơ giảm khả năng vận động, mất tính độc lập trong sinh hoạt, thậm chí làm gia tăng nguy cơ tử vong.

Khuyến cáo AACE 2020 cũng nhấn mạnh, trước khi điều trị, người bệnh cần được đánh giá nguyên nhân gây loãng xương thứ phát, bổ sung đầy đủ canxi và vitamin D nếu thiếu hụt, điều chỉnh các yếu tố nguy cơ, đồng thời thay đổi lối sống, tăng cường vận động phù hợp và thực hiện các biện pháp phòng ngừa té ngã.

Đối với người bệnh nguy cơ cao nhưng chưa từng gãy xương, các thuốc được ưu tiên gồm alendronate, risedronate, denosumab hoặc zoledronate. Trong khi đó, nhóm nguy cơ rất cao hoặc đã có gãy xương do loãng xương sẽ được cân nhắc sử dụng các thuốc như abaloparatide, denosumab, romosozumab, teriparatide hoặc zoledronate. Việc lựa chọn thuốc cần được cá thể hóa dựa trên đặc điểm từng bệnh nhân, nguy cơ gãy xương, khả năng đáp ứng điều trị và các bệnh lý đi kèm.

Sau mỗi năm điều trị, người bệnh cần được đánh giá lại mật độ xương, nguy cơ gãy xương và tình trạng lâm sàng để quyết định tiếp tục hay điều chỉnh phác đồ. Nếu vẫn tiếp tục mất xương hoặc xuất hiện gãy xương mới, bác sỹ sẽ cân nhắc chuyển sang nhóm thuốc có hiệu quả mạnh hơn nhằm giảm tối đa nguy cơ biến chứng.

ThS.BSNT Lê Thị Dương cũng lưu ý, nhiều người cho rằng chỉ cần uống canxi là đủ để điều trị loãng xương. Tuy nhiên, với những trường hợp loãng xương nặng hoặc nguy cơ gãy xương rất cao, việc sử dụng thuốc điều trị đặc hiệu theo chỉ định của bác sỹ là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, người bệnh cần duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, bổ sung đầy đủ canxi và vitamin D, tập luyện phù hợp, hạn chế mang vác vật nặng và chủ động phòng ngừa té ngã trong sinh hoạt hằng ngày.

Các chuyên gia khuyến cáo, loãng xương là bệnh tiến triển âm thầm trong nhiều năm và thường chỉ được phát hiện khi đã xảy ra gãy xương hoặc xẹp đốt sống.

Vì vậy, phụ nữ sau mãn kinh, người cao tuổi và những người có yếu tố nguy cơ nên chủ động khám sức khỏe, đo mật độ xương định kỳ để phát hiện sớm, điều trị kịp thời, tránh những biến chứng nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

Tận dụng “giờ vàng”, MEDLATEC cứu sống bệnh nhân sốt mò suy đa tạng
Bằng kinh nghiệm lâm sàng và hệ thống xét nghiệm hiện đại, các bác sỹ MEDLATEC đã kịp thời chẩn đoán sốt mò thể nặng ở nữ bệnh nhân 58...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư