-
Đề xuất cắt giảm toàn bộ điều kiện kinh doanh với dịch vụ kế toán -
Chủ tịch Quốc hội: Việt Nam - Pháp tiếp tục làm sâu sắc quan hệ hợp tác -
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân sẽ thăm chính thức Hàn Quốc, Mông Cổ -
Chủ tịch Quốc hội: Sớm đưa chính sách từ nghị trường vào cuộc sống -
Thủ tướng chỉ đạo tập trung cao độ, quyết liệt thực hiện 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm -
Chấm điểm KPI giải ngân đầu tư công: “Soi” điểm số của các bộ, ngành, địa phương
| Ảnh minh hoạ. (Nguồn: Internet) |
Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
Trong đó, Nghị định quy định rõ chủ thể quyền sở hữu công nghiệp bao gồm tổ chức, cá nhân sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 121 của Luật Sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.
Trong trường hợp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được cấp chung cho nhiều tổ chức, cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 86, khoản 5 Điều 87 và khoản 3 Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu chung của các tổ chức, cá nhân đó. Các chủ sở hữu chung thực hiện quyền sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự.
Phạm vi quyền sở hữu công nghiệp
Theo Nghị định quy định, phạm vi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác định theo phạm vi bảo hộ được ghi nhận trong sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, Đăng bạ quốc tế về nhãn hiệu và Đăng bạ quốc tế về kiểu dáng công nghiệp hoặc trong văn bằng bảo hộ, giấy xác nhận đăng ký quốc tế nhãn hiệu, quyết định chấp nhận bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đăng ký quốc tế.
Phạm vi quyền đối với tên thương mại được xác định theo phạm vi bảo hộ tên thương mại, gồm tên thương mại, lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh trong đó tên thương mại được chủ thể mang tên thương mại sử dụng một cách hợp pháp.
Việc đăng ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh không được coi là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là hợp pháp.
Phạm vi quyền đối với bí mật kinh doanh được xác định theo phạm vi bảo hộ bí mật kinh doanh, gồm tập hợp các thông tin tạo thành bí mật kinh doanh, được sắp xếp theo một trật tự chính xác và đầy đủ đến mức có thể khai thác được.
Các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ theo phạm vi bảo hộ với các điều kiện quy định tại các Điều 132, 133, 133a, 134, 135, 136, 136a, 137 của Luật Sở hữu trí tuệ.
-
Thủ tướng chỉ đạo tập trung cao độ, quyết liệt thực hiện 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm -
Chấm điểm KPI giải ngân đầu tư công: “Soi” điểm số của các bộ, ngành, địa phương -
Quảng Trị: Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế vào Ban Thường vụ Tỉnh uỷ -
Cơ bản tán thành bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát khi sửa Luật Chứng khoán -
700 đại biểu dự Diễn đàn hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản năm 2026 -
Đã giải ngân hơn 509.554 vốn đầu tư công -
[Insight] Kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi
-
Một mã QR, đa dạng đầu vào: VPBank SME mở cơ hội đón khách quốc tế cho doanh nghiệp Việt -
Phú Tài công bố việc góp vốn 950.000 USD, lập công ty con đầu tư tại Mỹ -
Công ty xi măng Long Sơn chúc mừng ngày Quốc khánh 2/9 -
Vận hành tích hợp là nền tảng của sản xuất thông minh -
LOTTE MART Bắc Giang tung loạt ưu đãi lớn dịp Quốc khánh 2/9 -
Vedan đóng góp trồng 1.000 cây xanh tại TP. Đồng Nai
