Thứ Bảy, Ngày 24 tháng 01 năm 2026,

Thách thức khi bẻ lái tín dụng
Hà Tâm - 24/01/2026 10:24
 
Ngân hàng Nhà nước đang hãm đà tăng tín dụng, nỗ lực bẻ lái dòng vốn chảy vào sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh tín dụng vẫn là động cơ chính của cỗ xe tăng trưởng, tái cơ cấu vốn gặp rất nhiều thách thức.
Năm 2025, vốn cho nền kinh tế dựa gần 60% vào tín dụng.  Ảnh: Đức Thanh

Bẻ lái tín dụng: Không thể một sớm một chiều

Ngân hàng Nhà nước vừa thông báo chỉ tiêu tín dụng năm nay tăng 15%, đồng nghĩa hệ thống ngân hàng sẽ bơm ra nền kinh tế 2,8 triệu tỷ đồng - tương đương con số năm 2025. Đà tăng tín dụng chậm lại trong bối cảnh vốn chảy rất mạnh vào bất động sản và lãi suất tăng nhanh, đe dọa bất ổn vĩ mô, được đánh giá tích cực.

Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) cho rằng, việc tập trung vào chất lượng, thay vì quy mô tăng trưởng là tín hiệu tốt cho thị trường. Với hệ thống ngân hàng, việc tăng trưởng dựa quá nhiều vào tín dụng sẽ kéo theo rủi ro hệ thống, đặc biệt là nợ xấu. Với nền kinh tế, tín dụng tăng nhanh có thể gây áp lực lên lãi suất, tỷ giá và lạm phát, nên việc siết lại là hợp lý.

Cùng với việc hãm bớt đà tăng tín dụng, năm nay, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt tăng trưởng cho vay bất động sản, không để tốc độ tăng vượt quá mức tăng tín dụng chung của chính ngân hàng. Yêu cầu này được đưa ra trong bối cảnh tín dụng bất động sản tính tới cuối tháng 11/2025 tăng khoảng 34%, quy mô dư nợ lên tới 4,5 triệu tỷ đồng, chiếm gần 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.  

Định hướng là như vậy, song câu hỏi đặt ra là liệu nhà điều hành có đạt được mục tiêu như mong muốn?

Hiện nay, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (Big 4) chỉ nắm 43% thị phần, 57% thị phần còn lại thuộc nhóm ngân hàng TMCP tư nhân. Đa phần các ngân hàng TMCP tư nhân hiện nay đều gắn với các tập đoàn bất động sản hoặc hệ sinh thái bất động sản sân sau của các ông chủ nhà băng. Vì vậy, dù Ngân hàng Nhà nước có định hướng, thì trước mắt cũng chưa thể nắn dòng tín dụng của 57% thị phần này chảy đúng hướng.

Ngành ngân hàng đối diện nhiều áp lực

- Bà Nguyễn Thị Hồng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Chính phủ đang đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đi đôi với đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây là mục tiêu cao và ngành ngân hàng xác định, điều này gắn liền với nhiệm vụ chính trị của mình.

Để đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế có nhiều yếu tố như vốn, nhân lực, đổi mới sáng tạo… Đặc biệt, Đảng và Nhà nước đã xác định, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực tăng trưởng chính trong giai đoạn tới.

Vốn của nền kinh tế đến từ nhiều nguồn, trong đó có tín dụng từ phía ngân hàng. Hiện tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao so với các nước có điều kiện tương đồng Việt Nam. Chính vì vậy, ngành ngân hàng đối diện nhiều áp lực trong thực hiện nhiệm vụ đa mục tiêu trong thời gian tới.

Ông Trần Ngọc Báu, CEO WiGroup cho rằng, mô hình tăng trưởng chưa thể dịch chuyển ngay, tức nền kinh tế năm nay vẫn sẽ tăng trưởng dựa vào tín dụng và tín dụng vẫn sẽ chảy vào các khu vực như bất động sản, đầu tư công.

Tương tự, theo ông Phạm Xuân Hòe, chuyên gia kinh tế, dù Ngân hàng Nhà nước cho biết, 70-80% tín dụng hiện nay tập trung vào lĩnh vực ưu tiên, song nếu loại trừ khu vực sản xuất phục vụ bất động sản, thì tỷ lệ tín dụng chảy vào sản xuất, kinh doanh thực sự vẫn thấp hơn nhiều.

Chính vì vậy, việc hãm phanh tín dụng là rất cần thiết. Bởi tín dụng tăng bao nhiêu không quan trọng bằng vốn chảy vào kênh nào. Nếu tín dụng tăng mạnh, nhưng chủ yếu chảy vào đảo nợ ngân hàng, đảo nợ trái phiếu, hay đổ vào bất động sản…, thì cũng không bền vững. Trong khi đó, nhiều lĩnh vực được định hướng khuyến khích như công nghệ, kinh tế xanh… vẫn chưa cải thiện.

Số liệu nghiên cứu cho thấy, năm 2025, vốn cho nền kinh tế dựa gần 60% vào tín dụng (chỉ 15% vào cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp). Năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, nền kinh tế chắc chắn vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng và đầu tư công trong bối cảnh yếu tố năng suất, đổi mới công nghệ… còn khiêm tốn. 

“Dù đã có nhiều nghị quyết được ban hành, song thực tế, công nghệ của chúng ta - ngoại trừ một số như phần mềm, ngân hàng…, thì đa phần vẫn đang trong giai đoạn đầu. Đây là lý do muốn tăng trưởng 10% năm nay, vẫn phải dựa vào mở rộng tài khóa và tiền tệ. Muốn thoát khỏi tình trạng này, phải tạo được đột phá trong điều hành, bao gồm cả đột phá về thể chế lẫn đột phá về khoa học, công nghệ.”, ông Hòe phân tích.

Chưa kể, trong bối cảnh nhiều ngân hàng nhỏ vẫn chật vật sống dựa vào hệ sinh thái là các ông chủ bất động sản, chật vật huy động vốn, chật vật tái cơ cấu, việc cơ cấu danh mục, cơ cấu khách hàng càng khó khăn hơn.

Điều này cho thấy, việc “bẻ lái” tín dụng không thể tách rời với tái cơ cấu các ngân hàng và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế.  

Làm thế nào để “cai” bớt bình ô-xy tín dụng?

Mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số đang gây áp lực lớn cho ngành ngân hàng. Theo các chuyên gia, hiện nay, tỷ lệ cho vay trung, dài hạn của hệ thống ngân hàng đã lên tới 47%, trong khi huy động vốn trung, dài hạn chỉ chiếm 20%. Chênh lệch huy động/cho vay vốn trung dài hạn lên tới 5 triệu tỷ đồng, khiến bài toán rủi ro thanh khoản và rủi ro kỳ hạn luôn đè nặng lên hệ thống ngân hàng.

Ông Phạm Hồng Hải cho rằng, không thể dựa vào ngân hàng như kênh cung vốn duy nhất cho nền kinh tế. Để tăng trưởng bền vững, bắt buộc phải phát triển thị trường vốn và cả chính sách tài khóa.

Gốc rễ là phát triển thị trường vốn

- Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc OCB

Năm nay, ngân hàng Nhà nước không nới lỏng tín dụng nhiều như năm 2025, nên room tín dụng cấp cho các ngân hàng sẽ thấp hơn. Vì vậy, trọng tâm của chúng tôi giai đoạn tới là tập trung tăng trưởng vào chất lượng và tăng trưởng sản phẩm phi tín dụng, giảm phụ thuộc vào tín dụng.

Tôi cho rằng, ngân hàng không thể là kênh cung ứng vốn dài hạn duy nhất cho nền kinh tế, vì rủi ro về thanh khoản là rất lớn. Để cung ứng đủ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế, điều gốc rễ là phải phát triển thị trường vốn (trái phiếu, cổ phiếu) và các định chế như bảo hiểm, quỹ hưu trí…

“Thời gian qua, chính sách tài khóa đã phát huy mạnh mẽ, nhưng phát triển thị trường vốn cần có một kế hoạch dài hạn với các cột mốc rõ ràng hơn. Hy vọng, chúng ta sẽ nhìn bài toán cung vốn cho nền kinh tế qua nhiều kênh dẫn vốn khác nhau, chứ không chỉ tín dụng ngân hàng”, ông Phạm Hồng Hải bày tỏ.

Theo CEO Ngân hàng OCB, giải pháp mấu chốt cho bài toán vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp phải là thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các định chế tài chính như bảo hiểm, quỹ hưu trí… Ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn, nếu cho vay trung và dài hạn quá nhiều, sẽ ảnh hưởng đến an toàn vốn và thanh khoản. 

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinRatings cho rằng, để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn tới, nếu không có cấu trúc vốn phù hợp, rủi ro tài chính sẽ rất lớn. Việc một số doanh nghiệp năng lượng tái tạo dù có mô hình tốt, nhưng vẫn vỡ nợ vì thiếu vốn trung, dài hạn thời gian qua là ví dụ điển hình.

“Thực tế Việt Nam thời gian qua cho thấy, đầu tư công và tín dụng ngân hàng đang là hai nguồn vốn chủ đạo, song dư địa không còn nhiều, đặc biệt là dư nợ tín dụng ngân hàng. Việc tăng trưởng dựa vào mở rộng tín dụng kéo dài sẽ rất rủi ro. Tôi kỳ vọng, thị trường vốn sẽ phát triển, nhất là kênh trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu, từ đó giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng”, ông Thuân khuyến nghị.

Điều tích cực là, theo ông Nguyễn Quang Thuân, năm nay, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ có sự bùng nổ, lượng phát hành mới sẽ bứt phá lên khoảng 1 triệu tỷ đồng, tăng gần gấp đôi năm 2025, bù đắp phần tín dụng dài hạn của ngân hàng thương mại đang giảm.

Ngoài ra, ông Trần Ngọc Báu kỳ vọng, năm nay, dòng tiền ngoại sinh sẽ tốt hơn, bù đắp phần nào cho thanh khoản trong nước. Hai năm qua, áp lực trả nợ ròng chính phủ rất lớn đã gây áp lực lên tỷ giá, thanh khoản ngân hàng. Nếu dòng vốn ngoại chảy vào mạnh trong thời gian tới, thanh khoản hệ thống sẽ được hỗ trợ.

Tựu trung, theo các chuyên gia, dư địa tăng trưởng thời gian tới vẫn còn, nhưng chủ yếu dựa vào chính sách tài khóa, không gian nới lỏng thêm chính sách tiền tệ không còn nhiều. Riêng năm 2026, chính sách tiền tệ vẫn sẽ nới lỏng ở mức tương tự năm 2025. Đồng thời, mặt bằng lãi suất điều hành sẽ được duy trì như hiện nay (riêng lãi suất thị trường khó tránh nhích lên) để hỗ trợ nền kinh tế.

Nhìn lại nợ xấu từ toàn bộ chu kỳ tín dụng
Nợ xấu ngân hàng không chỉ là chỉ tiêu kỹ thuật của một ngành, mà đang phản ánh cách nền kinh tế hấp thụ cú sốc, phân bổ rủi ro và trì hoãn...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư