-
OCB 3 năm liên tiếp phát hành báo cáo phát triển bền vững độc lập -
Doanh nghiệp Thủ đô hành động vì mục tiêu tăng trưởng bền vững 2 con số -
Bộ Tài chính triển khai kế hoạch phòng ngừa, ứng phó thiên tai -
JICA hợp tác Việt Nam thúc đẩy giải pháp quản lý ngập lụt đô thị và lưu vực sông -
Hà Nội quyết liệt kiểm soát nguồn phát thải, bảo vệ môi trường -
Huế dự kiến dành 220 tỷ đồng quản lý, sử dụng tín chỉ carbon
Quy định này được xem là bước đi quan trọng nhằm hình thành thị trường carbon rừng, tạo thêm nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời đặt ra cơ chế quản lý chặt chẽ để bảo đảm các cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.
Theo Nghị định 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, việc mua bán kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng chỉ được thực hiện thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon. Trước khi chuyển nhượng, lượng tín chỉ được bán phải được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận.
![]() |
| Tín chỉ carbon rừng được trao đổi, chuyển nhượng từ 1/7. |
Một nguyên tắc đáng chú ý là tín chỉ carbon rừng sau khi đã trao đổi hoặc chuyển nhượng sẽ không được tiếp tục bán cho bên khác nhằm tránh tình trạng giao dịch trùng lặp.
Nghị định cũng quy định rõ quyền sở hữu đối với tín chỉ carbon rừng. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu đối với tín chỉ hình thành từ các dự án do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện. UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu với các dự án do cơ quan chuyên môn cấp tỉnh triển khai.
Trong khi đó, chủ rừng được quyền sở hữu tín chỉ carbon tạo ra từ dự án do mình thực hiện. Chủ rừng cũng được phép hợp tác, liên kết với tổ chức hoặc doanh nghiệp để triển khai dự án carbon rừng, từ khâu xây dựng dự án, đo đạc, báo cáo, thẩm định cho đến cấp tín chỉ và chia sẻ lợi ích từ kết quả giảm phát thải.
Để được cung ứng tín chỉ carbon rừng ra thị trường, các đơn vị phải xây dựng và đăng ký dự án carbon rừng, tổ chức đo đạc và báo cáo kết quả giảm phát thải, thực hiện thẩm định và được cấp tín chỉ theo quy định. Đồng thời, bên cung ứng phải hoàn thành các nghĩa vụ tài chính liên quan như thuế, phí, lệ phí nếu có.
Về phía bên sử dụng dịch vụ, nghị định yêu cầu các tổ chức tham gia giao dịch phải hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, tuân thủ nội dung hợp đồng hoặc quy định của sàn giao dịch carbon, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
Theo quy định, việc thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp giữa bên mua và bên bán theo hợp đồng hoặc qua sàn giao dịch carbon. Ngoài ra, các bên cũng có thể thực hiện hình thức chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng.
Nghị định quy định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được tính bằng Đồng Việt Nam trên mỗi tấn CO2, mỗi tấn CO2 tương đương hoặc mỗi tín chỉ carbon rừng. Giá giao dịch được xác định thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon.
Trong trường hợp chuyển nhượng ra nước ngoài, giá có thể được tính bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ ban hành phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân. Việc xác định giá phải bảo đảm bù đắp được các chi phí liên quan như xây dựng dự án, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, bảo vệ và phát triển rừng, cũng như hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng.
Nguồn thu từ chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng của các tổ chức quản lý rừng thuộc sở hữu toàn dân sẽ được ưu tiên quay trở lại cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế cộng đồng dân cư, xây dựng cơ sở dữ liệu lâm nghiệp và triển khai các dự án carbon rừng mới.
Bên cạnh việc mở ra cơ hội hình thành thị trường carbon rừng trong nước, nghị định cũng đặt ra giới hạn đối với hoạt động chuyển nhượng tín chỉ ra thị trường quốc tế nhằm bảo đảm thực hiện cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Theo quy định hiện hành, tín chỉ carbon thuộc 47 lĩnh vực như xe điện, năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, rừng… được phép trao đổi quốc tế theo tỷ lệ nhất định.
Với tín chỉ hình thành từ điện gió ngoài khơi, trạm sạc hoặc thu giữ CO2 từ không khí, tỷ lệ được bán ra nước ngoài tối đa lên tới 90%. Riêng tín chỉ carbon từ rừng và điện sinh khối chỉ được chuyển nhượng tối đa 50%, phần còn lại phải giữ lại để phục vụ mục tiêu giảm phát thải quốc gia.
Chính phủ cũng nhấn mạnh việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng phải bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đồng thời không được ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.
-
Hà Nội quyết liệt kiểm soát nguồn phát thải, bảo vệ môi trường -
Huế dự kiến dành 220 tỷ đồng quản lý, sử dụng tín chỉ carbon -
Signify ra mắt hệ sinh thái chiếu sáng thông minh cho công trình bền vững -
Đà Nẵng lên kế hoạch phát triển các dự án năng lượng tái tạo -
Tìm được nhà đầu tư Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Gào -
Việt Nam - Australia dành 3,3 triệu AUD cho hai dự án nghiên cứu nông nghiệp mới -
AgriS thúc đẩy hành lang đổi mới sáng tạo nông nghiệp giữa Việt Nam và Australia
-
Danko Riverside Bắc Ninh - Kiến tạo biểu tượng, định danh vị thế -
Hưng Yên có cơ hội lớn trở thành một mắt xích logistics quan trọng của khu vực phía Bắc -
ASEAN Award 2026 vinh danh nhiều doanh nghiệp Việt Nam tại Singapore -
Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Nga được bầu làm Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam -
SSI Research: VPB có cơ hội đón dòng vốn FTSE gần 5.000 tỷ đồng trong kịch bản tích cực -
SHBFinance chuyển đổi từ Công ty TNHH hai thành viên trở lên thành Công ty TNHH một thành viên

