Thứ Ba, Ngày 28 tháng 07 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 28/7: Cứu cụ ông 75 tuổi mắc ung thư thanh quản dù nhiều bệnh nền
D.Ngân - 28/07/2026 09:47
 
Khàn tiếng kéo dài, khó thở nhưng chỉ đến bệnh viện khi khối u gần bít kín đường thở, người đàn ông 75 tuổi được các bác sỹ Bệnh viện E phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần thành công, vượt qua nhiều thách thức do tuổi cao, thể trạng gầy yếu và mắc nhiều bệnh nền.

Cứu người đàn ông 75 tuổi mắc ung thư thanh quản dù nhiều bệnh nền

Người đàn ông 75 tuổi nhập viện trong tình trạng khàn tiếng kéo dài, kèm theo khó thở và thở rít. Kết quả nội soi tại Bệnh viện E cho thấy khối u thanh quản đã phát triển lớn, che gần kín đường thở, đe dọa trực tiếp đến tính mạng.

Trước diễn tiến khó thở ngày càng tăng, các bác sỹ đã chỉ định mở khí quản khẩn cấp nhằm bảo đảm đường thở cho người bệnh. Kết quả sinh thiết sau đó xác định bệnh nhân mắc ung thư thanh quản.

5f15cce4-975c-4a78-815b-18b71224ed03
Bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện E.

Sau khi hội chẩn đa chuyên khoa, các bác sỹ quyết định thực hiện phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần kết hợp nạo vét hạch cổ hai bên. Đây là phương pháp điều trị tối ưu trong trường hợp này, song cũng đặt ra nhiều thách thức bởi người bệnh đã lớn tuổi, thể trạng gầy yếu và mắc nhiều bệnh lý nền.

Để giảm thiểu nguy cơ biến chứng, trước phẫu thuật, người bệnh được các bác sỹ điều chỉnh rối loạn điện giải, cải thiện tình trạng dinh dưỡng và nâng cao thể trạng. Chỉ khi các chỉ số sức khỏe ổn định, ê-kíp mới tiến hành phẫu thuật.

Nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa ung bướu, dinh dưỡng và gây mê hồi sức ngoại khoa, ca mổ diễn ra thuận lợi. Sau phẫu thuật, quá trình hồi phục của người bệnh tiến triển tích cực. Đến ngày thứ 11, bệnh nhân được rút ống nuôi ăn và xuất viện sau 14 ngày điều trị.

Tại lần tái khám gần đây, vết mổ đã liền tốt, lỗ thở ổn định và người bệnh có thể ăn uống bình thường. Đây được đánh giá là kết quả rất khả quan đối với một bệnh nhân cao tuổi, thể trạng yếu và mắc ung thư thanh quản ở giai đoạn tiến triển.

Theo các bác sỹ Bệnh viện E, ca bệnh cho thấy phẫu thuật ung thư thanh quản dù là một phẫu thuật lớn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, vẫn có thể đạt kết quả tốt nếu người bệnh được đánh giá toàn diện, chuẩn bị kỹ trước mổ và điều trị tại cơ sở có đội ngũ chuyên môn giàu kinh nghiệm. Việc phối hợp đa chuyên khoa đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình điều trị và phục hồi sau phẫu thuật.

Các chuyên gia cũng khuyến cáo, khàn tiếng kéo dài, khó thở, nuốt vướng hoặc ho dai dẳng, đặc biệt ở những người có tiền sử hút thuốc lá hoặc thường xuyên uống rượu, là những dấu hiệu không nên chủ quan. Người dân cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám sớm, bởi ung thư thanh quản nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm sẽ có cơ hội điều trị khỏi cao hơn, đồng thời tăng khả năng bảo tồn chức năng và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đau bụng khi làm việc, người đàn ông 64 tuổi phát hiện khối u dạ dày sát ngưỡng ung thư

Những cơn đau âm ỉ vùng thượng vị kèm ợ hơi kéo dài tưởng chỉ là bệnh dạ dày thông thường đã đưa người đàn ông 64 tuổi đến bệnh viện và phát hiện khối u tiền ung thư ở giai đoạn tiến triển. Việc điều trị càng trở nên phức tạp khi bệnh nhân từng đặt stent mạch vành, phải dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu hằng ngày, buộc các bác sỹ phải cân nhắc giữa nguy cơ xuất huyết và nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Chỉ với những cơn đau âm ỉ vùng thượng vị kèm ợ hơi kéo dài khi đang làm việc, ông N.V.C. (64 tuổi, Hà Nội) không ngờ mình đang mang trong người một tổn thương tiền ung thư dạ dày đã tiến triển nặng. Điều đặc biệt, ca bệnh không chỉ đặt ra thách thức trong điều trị khối u mà còn là bài toán cân bằng giữa nguy cơ chảy máu và nguy cơ tắc mạch do bệnh nhân có tiền sử đặt stent mạch vành, phải duy trì thuốc chống kết tập tiểu cầu mỗi ngày.

Khoảng hai tuần trước khi nhập viện, ông C. liên tục xuất hiện những cơn đau âm ỉ vùng thượng vị kèm ợ hơi. Do đặc thù công việc thường xuyên thức khuya, ông cho rằng đây chỉ là biểu hiện của bệnh dạ dày do sinh hoạt thất thường nên không đi khám hay điều trị.

Chỉ đến khi các triệu chứng kéo dài không thuyên giảm, ông mới đến bệnh viện kiểm tra. Kết quả nội soi khiến cả bệnh nhân và bác sỹ đều bất ngờ khi phát hiện hai vùng niêm mạc dạ dày biến đổi bất thường. Một tổn thương rộng khoảng 2 cm nằm ở góc bờ cong nhỏ, trong khi tổn thương còn lại khoảng 1 cm ở mặt trước hang vị. Cả hai xuất hiện trên nền niêm mạc dạ dày đã viêm teo nặng, mức độ C3 theo phân loại Kimura.

Mẫu sinh thiết ban đầu tại vùng hang vị cho thấy tổn thương loạn sản độ thấp - một dạng u tuyến tiền ung thư có nguy cơ tiến triển thành ung thư nếu không được loại bỏ kịp thời.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất không nằm ở khối u mà ở tiền sử bệnh lý tim mạch của người bệnh. Ông C. từng được đặt stent mạch vành cách đây ba năm và bắt buộc phải duy trì Aspirin 81 mg mỗi ngày để phòng ngừa hình thành cục máu đông trong lòng mạch. Bên cạnh đó, ông còn mắc tăng huyết áp suốt tám năm và đang điều trị bằng thuốc hạ áp.

Sau khi đánh giá toàn diện, các bác sỹ chỉ định cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) - phương pháp tối ưu để loại bỏ hoàn toàn tổn thương tiền ung thư. Tuy nhiên, đây là kỹ thuật có diện cắt rộng, nhiều mạch máu và thuộc nhóm thủ thuật có nguy cơ chảy máu rất cao.

Điều này đặt ê-kíp điều trị trước một bài toán khó. Nếu tiếp tục duy trì Aspirin, bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết nặng trong và sau thủ thuật, rất khó kiểm soát. Ngược lại, nếu ngừng thuốc hoàn toàn, cục máu đông có thể hình thành tại vị trí stent mạch vành, dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, đe dọa trực tiếp tính mạng.

Nhận định đây là trường hợp có "nguy cơ kép", các bác sỹ chuyên khoa Nội soi tiêu hóa và Tim mạch đã tổ chức hội chẩn liên chuyên khoa để xây dựng phương án điều trị tối ưu.

Sau khi đánh giá chức năng tim và tình trạng lưu thông qua stent, các bác sỹ tim mạch xác định khoảng thời gian an toàn cho phép người bệnh tạm ngừng Aspirin từ 5-7 ngày trước thủ thuật. Đây được xem là "khung thời gian vàng", vừa đủ để giảm tác dụng chống kết tập tiểu cầu nhằm hạn chế nguy cơ chảy máu, đồng thời vẫn bảo đảm nguy cơ hình thành huyết khối trong stent ở mức thấp nhất.

Trước khi can thiệp, toàn bộ nguy cơ của cả hai phương án đều được các bác sỹ giải thích kỹ cho người bệnh và gia đình. Sau khi thống nhất kế hoạch điều trị, ca cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi được tiến hành thuận lợi.

Khối u được bóc tách trọn vẹn, không xảy ra biến chứng chảy máu. Ngay sau khi diện cắt ổn định, bệnh nhân được sử dụng lại Aspirin để tiếp tục bảo vệ hệ tim mạch.

Điều đáng chú ý là kết quả giải phẫu bệnh sau khi cắt toàn bộ tổn thương cho thấy mức độ bệnh nặng hơn nhiều so với sinh thiết ban đầu. Tổn thương tại hang vị thực chất đã tiến triển thành loạn sản độ cao - giai đoạn tiền ung thư nặng, chỉ còn cách ung thư dạ dày giai đoạn sớm một bước rất ngắn.

Đồng thời, các bác sỹ cũng phát hiện sự hiện diện của vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) trên mẫu bệnh phẩm, mặc dù trước đó xét nghiệm hơi thở lại cho kết quả âm tính.

Từ trường hợp này, các chuyên gia cho biết sinh thiết bấm ban đầu chỉ lấy được một phần rất nhỏ của tổn thương nên đôi khi chưa phản ánh đầy đủ bản chất khối u. Vì vậy, cắt tách toàn bộ tổn thương bằng kỹ thuật ESD không chỉ là phương pháp điều trị triệt để mà còn là tiêu chuẩn vàng giúp đánh giá chính xác mức độ bệnh.

Các bác sỹ cũng lưu ý, ở những bệnh nhân bị viêm teo niêm mạc dạ dày nặng như trường hợp của ông C., các xét nghiệm không xâm lấn, đặc biệt là test hơi thở, có thể cho kết quả âm tính giả đối với vi khuẩn HP. Do đó, việc kiểm tra lại trên mẫu mô bệnh học sau cắt và điều trị tiệt trừ HP khi có chỉ định là bước quan trọng nhằm giảm nguy cơ tái phát tổn thương và hạn chế nguy cơ tiến triển thành ung thư dạ dày.

Theo các chuyên gia, đau bụng vùng thượng vị, ợ hơi, đầy bụng hoặc khó tiêu kéo dài là những triệu chứng rất dễ bị nhầm với các bệnh lý tiêu hóa thông thường. Tuy nhiên, nếu các biểu hiện này kéo dài hoặc tái diễn nhiều lần, đặc biệt ở người trung niên, người có tiền sử bệnh lý dạ dày hoặc có yếu tố nguy cơ, cần đến cơ sở y tế để nội soi và kiểm tra sớm. Việc phát hiện tổn thương ngay từ giai đoạn tiền ung thư sẽ giúp điều trị ít xâm lấn hơn, bảo tồn dạ dày và ngăn chặn nguy cơ tiến triển thành ung thư.

Nữ sinh 19 tuổi thoát cảnh tê bì chân nhờ phẫu thuật trượt đốt sống

Suốt nhiều năm, N.T.N. (19 tuổi, Hải Phòng) sống chung với những cơn đau âm ỉ vùng thắt lưng. Ban đầu, triệu chứng chỉ xuất hiện khi ngồi lâu nên em nghĩ đó là tình trạng đau mỏi thông thường. Thế nhưng theo thời gian, cơn đau ngày càng tăng, lan xuống chân kèm tê bì, khiến việc học tập và sinh hoạt hằng ngày trở nên khó khăn.

Kết quả thăm khám tại cơ sở y tế địa phương xác định N. bị trượt đốt sống L5/S1 do bẩm sinh và được chỉ định phẫu thuật. Tuy nhiên, vì lo ngại can thiệp ở cột sống khi còn quá trẻ có thể ảnh hưởng đến khả năng vận động, gia đình quyết định điều trị bảo tồn bằng thuốc kết hợp vật lý trị liệu.

“Lo con còn nhỏ, sợ phẫu thuật ảnh hưởng đến dây thần kinh gây liệt nên gia đình đã trì hoãn mổ, kiên trì điều trị nội khoa suốt 4-5 năm, đồng thời tìm hiểu thêm các phương pháp điều trị tại Nhật Bản và Australia”, bố bệnh nhân chia sẻ.

Dù vậy, các biện pháp điều trị bảo tồn không mang lại hiệu quả như mong muốn. Tình trạng đau lưng và tê bì chân ngày càng nặng, ảnh hưởng rõ rệt đến việc học tập cũng như chất lượng cuộc sống của nữ sinh.

Qua người thân giới thiệu, gia đình đưa N. đến Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh để thăm khám với PGS-TS.Hà Kim Trung, Phó Giám đốc Y khoa, chuyên gia phẫu thuật cột sống thuộc Khoa Chấn thương chỉnh hình - Thần kinh sọ não.

Sau khi thăm khám và đánh giá toàn diện, PGS-TS.Hà Kim Trung cho biết trượt đốt sống khiến cột sống mất vững, gây chèn ép các rễ thần kinh, dẫn đến đau lưng kéo dài, tê bì và suy giảm chức năng vận động. Điều trị nội khoa chỉ có tác dụng giảm triệu chứng tạm thời, trong khi phẫu thuật mới có thể đưa đốt sống trở về đúng vị trí giải phẫu và xử lý tận gốc nguyên nhân gây bệnh.

Theo bác sỹ, việc trì hoãn phẫu thuật khiến tình trạng chèn ép thần kinh ngày càng nghiêm trọng, làm tăng nguy cơ tổn thương thần kinh kéo dài và ảnh hưởng lâu dài đến khả năng vận động. Với người bệnh trẻ tuổi, mục tiêu của phẫu thuật không chỉ là giảm đau mà còn giải phóng chèn ép thần kinh, cố định đốt sống bị trượt, tái lập sự vững chắc của cột sống để người bệnh có thể học tập, lao động và sinh hoạt bình thường trong nhiều năm sau.

Sau khi hội chẩn, các bác sỹ đã trao đổi kỹ với gia đình về mức độ tổn thương, phương án điều trị, những nguy cơ có thể gặp cũng như khả năng hồi phục sau mổ. Khi đã hiểu rõ tình trạng bệnh, gia đình quyết định lựa chọn phẫu thuật.

“Trước đó có nơi tư vấn chỉ cần nắn chỉnh là khỏi, không cần mổ. Nhưng khi gặp bác sỹ Trung, gia đình mới hiểu tình trạng của cháu chỉ có phẫu thuật mới đưa cột sống trở về đúng vị trí và giải quyết triệt để nguyên nhân gây đau. Bác sỹ cũng giải thích rất rõ việc phẫu thuật ở vị trí này không gây liệt vì không có tủy sống mà chỉ có các rễ thần kinh, đồng thời các nguy cơ đều được kiểm soát nên gia đình rất yên tâm”, bố bệnh nhân cho biết.

Ca phẫu thuật do PGS-TS.Hà Kim Trung cùng ê-kíp thực hiện nhằm giải phóng các rễ thần kinh bị chèn ép và cố định đốt sống bằng hệ thống nẹp vít.

Bên cạnh kỹ thuật phẫu thuật, ê-kíp gây mê hồi sức cũng xây dựng kế hoạch kiểm soát đau ngay từ trong mổ bằng kỹ thuật gây tê mặt phẳng cơ thắt lưng dưới hướng dẫn siêu âm (TLIP block - Thoracolumbar Interfascial Plane Block).

Đây là kỹ thuật gây tê vùng hiện đại, trong đó thuốc tê được đưa chính xác vào mặt phẳng giữa các nhóm cơ vùng thắt lưng để phong bế các nhánh thần kinh cảm giác chi phối vùng phẫu thuật. Nhờ vậy, người bệnh được giảm đau hiệu quả sau mổ nhưng vẫn bảo tồn khả năng vận động, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phục hồi sớm.

BSCKI Cao Thanh Kỳ, Khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh cho biết, kiểm soát đau hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt trong phẫu thuật cột sống vì giúp người bệnh sớm ngồi dậy, tập đi và bắt đầu chương trình phục hồi chức năng. Đồng thời, phương pháp này còn giúp giảm nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid, từ đó hạn chế các tác dụng không mong muốn như buồn nôn, nôn, chóng mặt hay buồn ngủ sau mổ.

Ngay sau ca phẫu thuật, nữ sinh tỉnh táo, các triệu chứng đau lưng và tê bì chân cải thiện rõ rệt. Nhờ được kiểm soát đau tốt, người bệnh nhanh chóng được hướng dẫn ngồi dậy, tập đi và tham gia chương trình phục hồi chức năng theo phác đồ cá thể hóa để từng bước lấy lại khả năng vận động và sớm trở lại học tập.

Từ trường hợp này, PGS-TS.Hà Kim Trung khuyến cáo, trượt đốt sống không chỉ là bệnh lý của người trung niên hay cao tuổi mà cũng có thể gặp ở người trẻ do dị tật bẩm sinh hoặc chấn thương.

Khi xuất hiện các triệu chứng như đau lưng kéo dài, đau lan xuống chân, tê bì hoặc yếu chân, người bệnh cần đến cơ sở chuyên khoa để được thăm khám sớm. Việc chẩn đoán và điều trị đúng thời điểm không chỉ giúp giảm đau mà còn hạn chế nguy cơ tổn thương thần kinh và bảo tồn chức năng vận động lâu dài.

Thành công của ca bệnh cũng cho thấy hiệu quả của mô hình điều trị đa chuyên khoa, trong đó các chuyên ngành phẫu thuật cột sống, gây mê hồi sức, phục hồi chức năng và chăm sóc sau mổ phối hợp chặt chẽ nhằm tối ưu kết quả điều trị và rút ngắn thời gian hồi phục cho người bệnh.

Theo Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc, mô hình này được xây dựng theo các tiêu chuẩn quốc tế, đạt chứng nhận chất lượng của Hội đồng Tiêu chuẩn Chăm sóc sức khỏe Úc (ACHS) theo bộ tiêu chuẩn EQuIP7 và được Hiệp hội Phẫu thuật Hoàng gia Anh (Royal College of Surgeons - RCS) công nhận là Trung tâm đào tạo ngoại khoa.

Tăng tốc loại trừ viêm gan virus, giảm gánh nặng ung thư gan tại Việt Nam
Việt Nam hiện có khoảng 6,5 triệu người mắc viêm gan B và gần 1 triệu người mắc viêm gan C, hai nguyên nhân hàng đầu dẫn đến xơ gan và ung thư gan.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư