Thứ Ba, Ngày 06 tháng 10 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 6/10: Cảnh báo biến chứng thẩm mỹ sau tiêm filler tại spa
D.Ngân - 06/10/2026 08:04
 
Bác sỹ cảnh báo tiêm filler là thủ thuật y khoa, có thể gây tắc mạch, mất thị lực, đột quỵ, thậm chí tử vong nếu thực hiện không đúng kỹ thuật.

Cảnh báo hoại tử cánh mũi sau tiêm filler tại spa

Tiêm filler ngày càng phổ biến trong lĩnh vực thẩm mỹ, đặc biệt ở vùng mũi nhằm cải thiện đường nét khuôn mặt. Tuy nhiên, đây không phải thủ thuật làm đẹp đơn giản mà là một can thiệp y khoa, tiềm ẩn nhiều biến chứng nếu thực hiện sai kỹ thuật hoặc tại cơ sở không đủ điều kiện.

Ths.Vũ Đình Tâm, Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết, đơn vị vừa tiếp nhận một nam bệnh nhân gần 40 tuổi gặp biến chứng sau tiêm filler vùng mũi tại một spa.

Dermatologist Explains Nose Filler Risks
Người dân không nên tiêm filler tại spa hoặc cơ sở không được cấp phép thực hiện thủ thuật y khoa, kể cả khi được quảng cáo giá rẻ, thao tác nhanh hoặc cam kết "không biến chứng".

Chỉ một ngày sau thủ thuật, bệnh nhân xuất hiện sưng đau vùng mũi, chảy nhiều dịch mủ và hoại tử một phần cánh mũi. Nhận thấy dấu hiệu bất thường, người bệnh đến Bệnh viện Da liễu Trung ương thăm khám và được chỉ định nhập viện điều trị.

Qua thăm khám, bác sỹ ghi nhận một phần cánh mũi đã hoại tử, toàn bộ vùng mũi viêm tấy, xuất hiện nhiều mụn mủ. Sau một tuần điều trị, tình trạng bệnh nhân ổn định và được xuất viện.

Theo các bác sỹ, trường hợp này cho thấy biến chứng sau tiêm filler có thể xuất hiện rất nhanh và nghiêm trọng hơn nhiều so với những phản ứng thường gặp như sưng, bầm tím hoặc đau nhẹ sau tiêm.

Cũng theo Ths.Vũ Đình Tâm, một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của tiêm filler là tắc mạch. Tai biến có thể xảy ra do filler đi vào lòng mạch hoặc gây chèn ép mạch máu, làm giảm hoặc ngừng dòng máu nuôi mô. Nếu tình trạng thiếu máu, thiếu oxy kéo dài, tổn thương có thể tiến triển thành hoại tử.

Vùng mũi là vị trí cần đặc biệt thận trọng do hệ thống mạch máu vùng mặt có cấu trúc phức tạp, nhiều nhánh liên thông với hệ mạch quanh mắt. Ngoài tổn thương mô và hoại tử, tắc mạch do filler trong những trường hợp nghiêm trọng còn có thể gây mất thị lực, đột quỵ não, thậm chí tử vong.

Không chỉ tắc mạch, tiêm filler không bảo đảm vô khuẩn hoặc thực hiện không đúng quy trình còn có thể dẫn đến nhiễm trùng, áp xe, viêm mô, tổn thương da và để lại sẹo. Một số biến chứng cần điều trị kéo dài, ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe cũng như kết quả thẩm mỹ.

TS.Nguyễn Hồng Sơn, Trưởng Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết, để hạn chế tai biến, người thực hiện phải nắm vững giải phẫu mạch máu vùng mặt, hiểu rõ chỉ định, chống chỉ định của filler, kỹ thuật tiêm an toàn và có khả năng phát hiện, xử trí sớm biến chứng.

Bộ Y tế khuyến cáo người có nhu cầu tiêm filler nên lựa chọn nhân viên y tế được cấp phép, có đào tạo và kinh nghiệm phù hợp. Kiến thức giải phẫu và khả năng xử trí biến chứng mạch máu là những yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với người thực hiện thủ thuật.

Người dân không nên tiêm filler tại spa hoặc cơ sở không được cấp phép thực hiện thủ thuật y khoa, kể cả khi được quảng cáo giá rẻ, thao tác nhanh hoặc cam kết "không biến chứng".

Sau tiêm filler, nếu xuất hiện đau dữ dội hoặc đau tăng nhanh, da vùng tiêm trắng bệch, tím xanh, lạnh bất thường, tổn thương da hoặc dấu hiệu hoại tử, người bệnh cần đến cơ sở y tế ngay.

Đặc biệt, các biểu hiện như nhìn mờ, đau mắt, nhìn đôi, mất thị lực, yếu liệt, méo miệng hoặc nói khó cần được coi là dấu hiệu cấp cứu. Với trường hợp nghi ngờ tắc mạch, thời gian xử trí có ý nghĩa rất quan trọng. Phát hiện và điều trị càng sớm càng có khả năng hạn chế tổn thương mô và các di chứng nghiêm trọng.

Trước khi tiêm filler, người dân cần lựa chọn cơ sở y tế được cấp phép, bảo đảm người thực hiện có chuyên môn và được đào tạo phù hợp; đồng thời tìm hiểu rõ nguồn gốc sản phẩm, được tư vấn đầy đủ về lợi ích, giới hạn và nguy cơ có thể xảy ra.

Các bác sỹ khuyến cáo không nên đánh đổi sức khỏe chỉ vì chi phí thấp hoặc những lời quảng cáo hấp dẫn. Với các thủ thuật tiêm chất làm đầy, lựa chọn đúng cơ sở y tế và người thực hiện có chuyên môn là yếu tố quan trọng để giảm thiểu rủi ro.

Béo phì gia tăng nhanh, kéo theo gánh nặng bệnh tim mạch

Theo báo cáo của Liên đoàn Béo phì Thế giới năm 2025, tỷ lệ người trưởng thành thừa cân và béo phì trên toàn cầu tăng từ khoảng 36% năm 2010 lên 40% năm 2015 và gần 48% vào năm 2022. Nếu xu hướng này tiếp diễn, đến năm 2030, khoảng 3 tỷ người trưởng thành, tương đương gần một nửa dân số trưởng thành thế giới, có thể sống chung với tình trạng thừa cân hoặc béo phì.

Tỷ lệ béo phì ở nữ giới trên toàn cầu hiện cao hơn nam giới. Dự báo đến năm 2030, khoảng 27% phụ nữ trưởng thành và 21% nam giới trưởng thành mắc béo phì.

Tại Việt Nam, tỷ lệ thừa cân, béo phì hiện vẫn thấp hơn nhiều quốc gia và mức trung bình chung của thế giới. Năm 2021, tỷ lệ người trưởng thành từ 18-69 tuổi có BMI từ 25 kg/m² trở lên là 19,5%.

Tuy nhiên, đáng lo ngại là Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tốc độ gia tăng thừa cân, béo phì nhanh nhất thế giới. Trong giai đoạn 2000-2016, mức tăng trung bình khoảng 3,8% mỗi năm và được dự báo tiếp tục tăng khoảng 4% mỗi năm trong giai đoạn 2020-2035. Riêng tốc độ gia tăng béo phì trong giai đoạn này được dự báo ở mức 6,3% mỗi năm.

Đến năm 2030, ước tính Việt Nam có khoảng 18,92 triệu người trưởng thành bị thừa cân, béo phì. Tình trạng này cũng gia tăng nhanh ở trẻ em và thanh thiếu niên.

Trong giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ từ 5-19 tuổi tăng trung bình 7,9% mỗi năm, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Năm 2025, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở nhóm tuổi này lần lượt đạt 20,68% và 11,36%, tương ứng khoảng 4,8 triệu trẻ em, thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi sống chung với thừa cân hoặc béo phì.

Sự gia tăng nhanh ở cả người lớn lẫn trẻ em đang kéo theo nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm, trong đó bệnh tim mạch là một trong những gánh nặng đáng chú ý.

Theo GS-TS.Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam, béo phì làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, đái tháo đường tuýp 2, rối loạn lipid máu, bệnh thận mạn, gan nhiễm mỡ chuyển hóa và ngưng thở khi ngủ. Tình trạng này còn liên quan trực tiếp đến bệnh tim mạch do xơ vữa, suy tim, rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch và một số bệnh van tim.

Mô mỡ dư thừa không đơn thuần là nơi dự trữ năng lượng mà còn hoạt động như một cơ quan nội tiết - miễn dịch. Lượng mô mỡ quá mức có thể thúc đẩy tình trạng viêm, gây rối loạn chuyển hóa, tăng huyết áp, đồng thời tác động đến cấu trúc và chức năng của tim.

Trong số các bệnh lý liên quan, suy tim có mối quan hệ đặc biệt với béo phì. Khi lượng mỡ dư thừa gia tăng, nhu cầu chuyển hóa và gánh nặng đối với hệ tim mạch cũng lớn hơn. Béo phì còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, một trong những nguyên nhân có thể dẫn tới suy tim.

Với người đã mắc suy tim, béo phì có thể làm giảm khả năng gắng sức, khiến triệu chứng nặng hơn, chất lượng cuộc sống suy giảm và nguy cơ nhập viện tăng. Đặc biệt, suy tim phân suất tống máu bảo tồn có mối liên quan đáng kể với tình trạng béo phì.

Các chuyên gia cho rằng việc đánh giá béo phì không nên chỉ dựa vào cân nặng hoặc chỉ số BMI. Vòng eo, sự phân bố mỡ, đặc biệt là lượng mỡ nội tạng, cùng các bệnh đồng mắc và tổn thương cơ quan đích đều cần được xem xét để đánh giá đầy đủ nguy cơ sức khỏe.

Trong thực hành đối với người trưởng thành tại Việt Nam, BMI từ 23-24,9 kg/m² được xếp vào nhóm thừa cân và từ 25 kg/m² trở lên là béo phì. Dù vậy, hai người có cùng chỉ số BMI vẫn có thể mang mức nguy cơ sức khỏe khác nhau do lượng mỡ nội tạng, phân bố mô mỡ và các yếu tố chuyển hóa không giống nhau.

Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam cũng cho rằng, mục tiêu điều trị béo phì hiện không còn dừng ở câu hỏi người bệnh "giảm được bao nhiêu kg", mà hướng tới cải thiện sức khỏe và kết cục lâm sàng. Hiệu quả điều trị cần được đánh giá qua khả năng giảm nguy cơ tim mạch, cải thiện vận động, triệu chứng, chất lượng cuộc sống và kiểm soát các bệnh đồng mắc.

Điều trị béo phì vì vậy cần được thực hiện lâu dài, đa mô thức và cá thể hóa. Điều chỉnh chế độ ăn, tăng cường hoạt động thể lực và duy trì các hành vi có lợi cho sức khỏe vẫn là nền tảng.

Trong tim mạch học hiện đại, quản lý béo phì cũng đang chuyển từ mục tiêu giảm cân đơn thuần sang giảm lượng mô mỡ dư thừa, cải thiện chức năng các cơ quan, kiểm soát bệnh đồng mắc và hạn chế nguy cơ xảy ra biến cố tim mạch.

Các bằng chứng mới về liệu pháp incretin như GLP-1 RA, GIP/GLP-1 RA cùng phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân đang mở rộng lựa chọn điều trị, đưa kiểm soát béo phì trở thành một phần ngày càng quan trọng trong dự phòng và điều trị bệnh tim mạch. Các chuyên gia lưu ý thuốc điều trị béo phì cần được sử dụng đúng chỉ định, dưới sự theo dõi của bác sỹ; người bệnh không nên tự mua và sử dụng thuốc.

Nhận diện đúng mày đay và nguy cơ dị ứng ở trẻ

Bé T.Y.N., 6 tuổi, được gia đình đưa đến Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Vĩnh Phúc (Phú Thọ) do xuất hiện mẩn ngứa toàn thân kéo dài khoảng 10 ngày. Tình trạng ngứa tăng nhiều về đêm, dù gia đình đã tự mua thuốc điều trị tại nhà nhưng triệu chứng cải thiện chậm.

Sáng ngày đến khám, các nốt mẩn xuất hiện dày hơn, khởi đầu ở vùng ngực, bụng rồi lan ra toàn thân. Trẻ đồng thời bị phù môi, phù mi mắt, ngứa nhiều và khó chịu. Trẻ không sốt, không ho, không khó thở, không đau bụng; ăn uống, đại tiểu tiện bình thường. Theo gia đình, trước đó trẻ từng có một số đợt mẩn ngứa tương tự và thường cải thiện sau khi dùng thuốc chống dị ứng.

BSCKI.Nguyễn Hương Giang, chuyên khoa Nhi ghi nhận trẻ tỉnh táo, tiếp xúc tốt, da niêm mạc hồng. Vùng mặt có phù Quincke, trên da xuất hiện nhiều sẩn phù, ban đỏ dạng mày đay rải rác toàn thân. Các cơ quan khác chưa ghi nhận bất thường, dấu hiệu sinh tồn trong giới hạn bình thường.

Từ biểu hiện lâm sàng, bác sỹ nhận định trẻ bị mày đay cấp kèm phù mạch và chỉ định thêm các xét nghiệm nhằm đánh giá tình trạng dị ứng, đồng thời tìm yếu tố liên quan.

Kết quả cho thấy IgE toàn phần tăng rất cao, đạt 1.340 IU/mL, trong khi giá trị tham chiếu dưới 60 IU/mL. Số lượng bạch cầu ái toan tăng lên 0,44 G/L. Vitamin D toàn phần ở mức 22,04 ng/ml, thấp hơn ngưỡng tham chiếu trên 30 ng/ml.

Đáng chú ý, xét nghiệm Panel dị nguyên ghi nhận 7 nhóm dị nguyên dương tính, gồm bụi nhà, mạt bụi nhà D. pteronyssinus và D. farinae, gián, cua, tôm, nhóm vẹm xanh/hàu/nghêu/sò và nhộng tằm.

Từ kết quả thăm khám và xét nghiệm, trẻ được chẩn đoán mày đay cấp kèm thiếu vitamin D, được kê đơn điều trị và hướng dẫn chăm sóc, theo dõi tại nhà. BSCKI.Nguyễn Hương Giang cho biết, mày đay ở trẻ có thể liên quan đến nhiều yếu tố như nhiễm virus, thuốc, thực phẩm, côn trùng, môi trường hoặc các yếu tố vật lý. Tuy nhiên, IgE tăng cao hoặc xét nghiệm dị nguyên dương tính không đồng nghĩa tất cả các dị nguyên được phát hiện đều là nguyên nhân trực tiếp gây ra đợt mày đay.

Vì vậy, kết quả xét nghiệm dị nguyên cần được đối chiếu với biểu hiện lâm sàng, tiền sử và thời điểm trẻ tiếp xúc với tác nhân nghi ngờ. Cha mẹ không nên tự ý loại bỏ nhiều loại thực phẩm khỏi khẩu phần của trẻ chỉ dựa trên kết quả xét nghiệm dương tính, bởi việc kiêng khem quá mức có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng và sự phát triển.

Đối với tình trạng thiếu vitamin D, trẻ cần được bổ sung theo hướng dẫn của bác sỹ, đồng thời duy trì chế độ ăn đa dạng, cân đối và phù hợp với lứa tuổi. Mày đay là tình trạng khá thường gặp ở trẻ, đặc trưng bởi các sẩn phù nổi trên da, thường kèm ngứa. Tổn thương có thể xuất hiện nhanh, thay đổi hình dạng, kích thước và vị trí; mỗi tổn thương riêng lẻ thường biến mất trong vòng 24 giờ mà không để lại dấu vết.

Nếu tình trạng phù nề nằm sâu hơn ở da hoặc niêm mạc, thường xuất hiện tại môi, mí mắt, mặt, được gọi là phù mạch hoặc phù Quincke. Dạng tổn thương này có thể tồn tại lâu hơn so với các sẩn mày đay thông thường.

Dựa vào thời gian diễn biến, mày đay được chia thành mày đay cấp nếu kéo dài dưới 6 tuần và mày đay mạn tính nếu kéo dài trên 6 tuần, thường có tính chất tái diễn.

Chẩn đoán mày đay chủ yếu dựa trên biểu hiện lâm sàng và diễn biến bệnh. Việc tìm nguyên nhân đôi khi không đơn giản, do đó bác sỹ cần khai thác kỹ tiền sử dị ứng, thuốc đã sử dụng, thực phẩm, môi trường sống và các yếu tố trẻ vừa tiếp xúc. Trong những trường hợp phù hợp, xét nghiệm dị ứng có thể được chỉ định để hỗ trợ đánh giá.

Mày đay cấp phần lớn có diễn biến thuận lợi và có thể tự giới hạn. Thuốc kháng histamin H1 thế hệ 2 thường được sử dụng để kiểm soát triệu chứng theo chỉ định. Cha mẹ không nên tự ý tăng liều, phối hợp nhiều thuốc chống dị ứng hoặc sử dụng corticoid cho trẻ nếu chưa có hướng dẫn chuyên môn.

Dù phần lớn trường hợp mày đay không để lại tổn thương da lâu dài, tình trạng ngứa kéo dài hoặc tái diễn có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống của trẻ.

Đặc biệt, nếu mày đay hoặc phù mạch đi kèm các dấu hiệu như sưng lưỡi, sưng họng, khàn tiếng, khó nói, khó thở, khò khè, ho kéo dài, nôn ói, đau bụng dữ dội, chóng mặt, lơ mơ, tím tái hoặc ngất, trẻ cần được đưa đến cơ sở y tế ngay vì đây có thể là dấu hiệu gợi ý phản vệ.

Ngay cả khi chưa có các biểu hiện nguy hiểm trên, trẻ vẫn nên được thăm khám sớm nếu ban lan nhanh, tái diễn nhiều lần, kéo dài hoặc kèm phù môi, phù mắt, phù mặt.

Các bác sỹ khuyến cáo cha mẹ chỉ nên hạn chế những yếu tố nghi ngờ gây khởi phát sau khi đã được đánh giá chuyên môn, đồng thời theo dõi sát diễn biến và tuân thủ hướng dẫn điều trị. Không nên tự mua thuốc hoặc loại bỏ nhiều nhóm thực phẩm khỏi khẩu phần của trẻ chỉ dựa trên kết quả xét nghiệm dị nguyên.

Tin mới y tế ngày 22/8: Bộ Y tế yêu cầu làm rõ vụ nam thanh niên tử vong tại cơ sở thẩm mỹ ở TP.HCM
Bộ Y tế yêu cầu Sở Y tế TP.HCM khẩn trương xác minh vụ nam thanh niên 24 tuổi tử vong tại một cơ sở thẩm mỹ, đồng thời làm rõ phạm vi hoạt...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư