-
An cung ngưu hoàng hoàn bị thổi phồng công dụng, Bộ Y tế yêu cầu siết quản lý -
Làm đẹp an toàn: Công nghệ mới cần đi cùng chuẩn hóa kỹ năng bác sỹ -
Gánh nặng RSV ở trẻ em Việt Nam -
Phạt Medochemie 155 triệu đồng, buộc tái xuất 2 lô nguyên liệu làm thuốc -
Tin mới y tế ngày 4/10: Nâng phụ cấp, giữ chân nhân lực y tế vùng khó
Gần 17 triệu người mắc tăng huyết áp, chỉ 15% kiểm soát tốt
Thông tin về bệnh lý tim mạch hiện nay, GS.-TS.Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam cho hay, theo hồ sơ tăng huyết áp Việt Nam năm 2025 của WHO, trong khoảng 16,9 triệu người trưởng thành mắc tăng huyết áp, chỉ 51% đã được chẩn đoán, 32% được điều trị và khoảng 15% kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu. Khoảng trống lớn từ phát hiện, điều trị đến kiểm soát bệnh đang đặt ra thách thức đáng kể đối với hệ thống y tế.
![]() |
| Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính khoảng 16,9 triệu người Việt Nam trong độ tuổi 30-79 mắc tăng huyết áp, song chỉ khoảng 15% kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu. |
Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng làm gia tăng bệnh tim mạch tại Việt Nam. Các yếu tố nguy cơ khác gồm rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, hút thuốc lá, thừa cân, béo phì, ít vận động, chế độ ăn không hợp lý và tình trạng già hóa dân số.
Huyết áp bình thường ở người trưởng thành thường khoảng 120/80 mmHg. Với người mắc tăng huyết áp, đặc biệt những trường hợp có bệnh tim mạch, đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn tính, mục tiêu kiểm soát thường dưới 130/80 mmHg theo chỉ định và đánh giá của bác sỹ.
Việc kiểm soát huyết áp mang lại lợi ích rõ rệt trong phòng ngừa các biến cố tim mạch. Theo số liệu được công bố tại Đại hội tim mạch vừa qua thì việc giảm 5 mmHg huyết áp có thể giúp giảm 13% nguy cơ đột quỵ, 13% nguy cơ suy tim, 8% nguy cơ bệnh tim thiếu máu cục bộ và giảm 5% nguy cơ tử vong do tim mạch.
Bệnh tim mạch hiện là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. WHO ước tính năm 2022 có khoảng 19,8 triệu người tử vong do bệnh tim mạch, chiếm khoảng 32% tổng số ca tử vong toàn cầu. Khoảng 85% số ca tử vong do tim mạch liên quan đến nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Trước thực trạng tỷ lệ người bệnh kiểm soát huyết áp còn thấp, Hội Tim mạch học Việt Nam phát động Hiến chương 50/30, đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50% người mắc tăng huyết áp kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu.
Theo GS-TS.Phạm Mạnh Hùng, để đạt mục tiêu này cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ kiểm soát yếu tố nguy cơ, đo huyết áp thường xuyên, phát hiện bệnh sớm đến điều trị đúng, tăng tuân thủ điều trị và theo dõi lâu dài. “Quản lý tăng huyết áp không chỉ là nhiệm vụ của các bệnh viện tuyến cuối”, GS-TS.Phạm Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Người dân cần được phát hiện sớm, tiếp cận điều trị phù hợp và theo dõi thường xuyên trong hệ thống y tế. Điều này đòi hỏi tăng cường vai trò của y tế cơ sở, đặc biệt trong quản lý các bệnh mạn tính tại cộng đồng.
Về phía Bộ Y tế, theo TS.Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế cho rằng, bệnh tim mạch tiếp tục là một trong những thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh phát triển các kỹ thuật chuyên sâu tại bệnh viện tuyến cuối, ngành y tế cần đẩy mạnh dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý người bệnh liên tục.
Theo ông Đức, những tiến bộ y học và các khuyến cáo chuyên môn chỉ thực sự phát huy giá trị nếu được triển khai hiệu quả trong thực hành, để người bệnh ở các khu vực khác nhau đều có cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế an toàn, chất lượng.
Với số người mắc tăng huyết áp lên tới gần 17 triệu, việc chỉ dựa vào các bệnh viện để theo dõi và điều trị sẽ khó đáp ứng nhu cầu. Vì vậy, năng lực của y tế cơ sở cần được củng cố để có thể phát hiện, điều trị và quản lý người bệnh lâu dài ngay tại cộng đồng.
Cùng với hệ thống y tế, thay đổi lối sống có vai trò quan trọng trong phòng ngừa và kiểm soát tăng huyết áp. Các chuyên gia khuyến cáo người dân duy trì vận động thể lực, ăn uống hợp lý, kiểm soát cân nặng, hạn chế thuốc lá và chủ động đo huyết áp định kỳ, nhất là những người có yếu tố nguy cơ tim mạch.
Đột biến gene từ mẹ khiến bé 7 tháng tổn thương não
Bé trai 7 tháng tuổi chậm phát triển, chưa biết lật, cầm nắm, thường xuyên gồng cứng cơ. Xét nghiệm di truyền xác định trẻ mang đột biến gene ty thể MT-ND3 với tỷ lệ bất thường 100%, trong khi người mẹ mang cùng biến thể với tỷ lệ 17% nhưng gần như không có triệu chứng.
Ths.Nguyễn Phương Thảo, Đơn vị Y học bào thai cho biết, ty thể là bào quan nằm trong tế bào, có bộ gene riêng gọi là DNA ty thể (mtDNA), đóng vai trò sản xuất năng lượng cho cơ thể. Các đột biến ảnh hưởng đến chức năng ty thể có thể khiến tế bào thiếu hụt năng lượng, đồng thời làm oxy và nhiên liệu chưa được chuyển hóa tích tụ, gây tổn thương tế bào.
Những cơ quan cần nhiều năng lượng như não, cơ, tim, gan, thận, mắt và tai thường chịu ảnh hưởng rõ nhất. Bệnh nhi 7 tháng tuổi được gia đình đưa đến bệnh viện do thường xuyên quấy khóc, chưa biết lật, chưa biết cầm nắm, cổ yếu, ngón cái cò súng và gồng cứng cơ. Kết quả xét nghiệm ghi nhận nồng độ lactate trong máu cao gấp ba lần bình thường. MRI não cho thấy tổn thương nhân nền hai bên - cấu trúc thần kinh nằm sâu trong hai bán cầu não, tham gia kiểm soát vận động, trương lực cơ và phối hợp cử động.
Từ các dấu hiệu lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, bác sỹ Thảo nghi ngờ trẻ mắc bệnh liên quan đến rối loạn chức năng ty thể và chỉ định xét nghiệm di truyền chuyên sâu.
Kết quả xác định bé mang đột biến gene MT-ND3 nằm trên DNA ty thể, với tỷ lệ bất thường 100%. Biến đổi này làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tạo năng lượng của tế bào thần kinh và cơ, khiến trẻ mắc hội chứng Leigh - một dạng bệnh ty thể hiếm gặp - và chậm phát triển tâm thần vận động mức độ nặng.
Theo bác sỹ Thảo, các bệnh do đột biến DNA ty thể phần lớn di truyền từ mẹ. Trong quá trình thụ tinh, phôi thai chủ yếu nhận DNA ty thể từ tế bào trứng của người mẹ. Một số trường hợp khác, đột biến có thể mới xuất hiện trong giai đoạn sớm của quá trình phát triển phôi.
Từ kết quả của bệnh nhi, người mẹ được chỉ định xét nghiệm di truyền để xác định nguồn gốc biến thể MT-ND3. Phân tích gene cho thấy chị cũng mang đột biến này nhưng tỷ lệ bất thường chỉ 17%. Như vậy, phần lớn ty thể trong cơ thể người mẹ vẫn hoạt động bình thường, giúp duy trì khả năng sản xuất năng lượng nên chị gần như không có biểu hiện bệnh rõ rệt.
Tuy nhiên, ở mỗi lần mang thai, tỷ lệ DNA ty thể bất thường được truyền sang con có thể khác nhau và khó dự đoán chính xác. Đây cũng là lý do cùng mang một biến thể nhưng người mẹ chỉ mang tỷ lệ đột biến thấp, trong khi con trai lại có tỷ lệ bất thường lên tới 100% và biểu hiện bệnh nặng.
Bác sỹ Thảo giải thích, trong một cơ thể có thể đồng thời tồn tại DNA ty thể bình thường và DNA ty thể mang biến thể, với tỷ lệ khác nhau. Hiện tượng này được gọi là dị thể ty thể. Tỷ lệ DNA bất thường có thể khác nhau giữa các cá thể, thậm chí giữa các mô và cơ quan trong cùng một cơ thể, từ đó tạo ra mức độ biểu hiện bệnh rất khác nhau.
Với những phụ nữ mang đột biến gene ty thể, mang thai tự nhiên vẫn tiềm ẩn nguy cơ sinh con mắc bệnh. Đáng lưu ý, nhiều bệnh ty thể không biểu hiện bất thường rõ ràng trên siêu âm thai mà chỉ bộc lộ sau sinh. Chọc ối kết hợp xét nghiệm di truyền trước sinh có thể giúp đánh giá tỷ lệ DNA ty thể bất thường và hỗ trợ tiên lượng nguy cơ cho thai nhi.
Một trong những kỹ thuật nhằm hạn chế nguy cơ truyền đột biến DNA ty thể từ mẹ sang con là chuyển tiền nhân (Pronuclear Transfer).
Theo nguyên lý của kỹ thuật này, trước tiên hình thành một phôi từ trứng của người mẹ mang biến thể ty thể và tinh trùng của người bố. Đồng thời, một phôi khác được tạo từ trứng hiến có ty thể khỏe mạnh. Nhân chứa DNA của bố và mẹ từ phôi thứ nhất được chuyển sang phần tế bào chất của phôi hiến đã loại bỏ nhân nhưng còn giữ lại hệ ty thể khỏe mạnh.
Phôi sau chuyển sẽ mang phần lớn DNA nhân từ bố và mẹ, đồng thời nhận DNA ty thể từ người hiến. Trẻ sinh ra theo phương pháp này thường được nhắc đến với khái niệm "em bé ba cha mẹ", dù phần vật chất di truyền quyết định phần lớn đặc điểm của trẻ vẫn đến từ bố và mẹ.
Hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu đối với phần lớn bệnh lý ty thể. Việc điều trị chủ yếu nhằm kiểm soát triệu chứng, hỗ trợ vận động, vật lý trị liệu, dinh dưỡng và xử trí các biến chứng tại từng cơ quan.
Với bệnh nhi này, tỷ lệ DNA ty thể bất thường được ghi nhận 100%, nguy cơ suy giảm nghiêm trọng chức năng thần kinh và ảnh hưởng đến tiên lượng sống. Trẻ cần được theo dõi, hỗ trợ và điều trị đa chuyên khoa nhằm hạn chế biến chứng, duy trì chức năng vận động và cải thiện chất lượng sống.
Hội chứng Leigh do đột biến gene ty thể là bệnh hiếm, ước tính gặp ở khoảng 1/40.000 trẻ sinh sống và có thể liên quan tới biến thể ở hơn 110 gene khác nhau. Bệnh thường ảnh hưởng mạnh tới những cơ quan tiêu thụ nhiều năng lượng như não, cơ và tim.
Trẻ mắc hội chứng này có thể chậm phát triển tâm thần vận động, co giật, yếu cơ, giảm trương lực cơ, suy giảm thị lực, rối loạn vận động cùng nhiều tổn thương thần kinh khác.
Theo bác sỹ Thảo, cha mẹ cần đưa trẻ đi khám nếu con chậm đạt các mốc phát triển, yếu cơ, bất thường trương lực cơ, co giật, rối loạn vận động hoặc xuất hiện những dấu hiệu thần kinh bất thường. Tùy tình trạng lâm sàng và tiền sử gia đình, bác sỹ có thể chỉ định chụp MRI, xét nghiệm chuyển hóa hoặc xét nghiệm gene để tìm nguyên nhân, đồng thời tư vấn nguy cơ di truyền cho gia đình và xây dựng kế hoạch theo dõi, điều trị phù hợp.
U tụy hiếm khiến người phụ nữ liên tục ngất xỉu
Khoảng hai tháng trước, chị Kim, 46 tuổi, lần đầu đột nhiên mệt rũ, choáng váng, bủn rủn chân tay rồi mất ý thức giữa đường. Chị được đưa vào một bệnh viện gần nhà cấp cứu và được xác định hạ đường huyết.
Sau đó, người bệnh tiếp tục thường xuyên mệt, khó thở, đau vùng đỉnh đầu và vùng chẩm. Hơn một tháng sau, chị ngất lần thứ hai với những triệu chứng tương tự. Chỉ một tuần sau, chị tiếp tục ngất lần thứ ba, lần này kèm co giật và được đưa vào cấp cứu tại cơ sở y tế.
Kết quả kiểm tra đường máu mao mạch tại giường cho thấy đường huyết của người bệnh chỉ còn 33 mg/dL, thấp hơn nhiều so với mức thông thường 80-120 mg/dL. Các bác sỹ chẩn đoán chị bị hạ glucose máu nặng, kèm tăng huyết áp, co giật và cần theo dõi cơn động kinh.
Sau khi được truyền glucose để đưa đường huyết trở lại ổn định, chị được chuyển đến Khoa Nội tiết - Đái tháo đường tiếp tục theo dõi và tìm nguyên nhân.
Bác sỹ Trần Tấn Phát, chuyên khoa nội tiết - đái tháo đường khi thăm khám cho bệnh nhân cho biết, các cơn ngất của người bệnh có đầy đủ đặc điểm của tam chứng Whipple - gồm xuất hiện các triệu chứng như vã mồ hôi, run tay, chóng mặt, ngất xỉu; ghi nhận đường huyết thấp trong thời điểm có triệu chứng và các biểu hiện này hết sau khi đường huyết được nâng lên.
Từ những dấu hiệu trên, các bác sỹ nghi ngờ người bệnh mắc insulinoma - u tụy nội tiết có khả năng tiết insulin - và chỉ định nghiệm pháp nhịn ăn. Kết quả xét nghiệm dương tính, củng cố khả năng có tình trạng tăng tiết insulin nội sinh bất thường.
Người bệnh sau đó được thực hiện nội soi siêu âm và chụp CT Scan 1.975 lát cắt. Kết quả phát hiện một khối u kích thước 23x23 mm tại vùng đuôi tụy, có đặc điểm tăng sinh mạch, phù hợp với chẩn đoán u tụy nội tiết insulin.
Sau hội chẩn liên chuyên khoa, chị Kim được phẫu thuật nội soi cắt bỏ khối u. Sau mổ, đường huyết của người bệnh trở về mức bình thường và tiếp tục được theo dõi chức năng tụy.
Theo bác sỹ Phát, insulinoma là một dạng u thần kinh nội tiết hiếm gặp, chủ yếu xuất phát từ các tế bào đảo tụy và có khả năng tiết insulin. Khối u tiết insulin quá mức làm nồng độ insulin trong máu tăng bất thường, kéo theo tình trạng đường huyết giảm sâu.
Nếu không được phát hiện và điều trị, người bệnh có thể liên tục rơi vào các cơn hạ đường huyết, từ chóng mặt, vã mồ hôi, lú lẫn đến co giật, mất ý thức và hôn mê. Hạ đường huyết xảy ra đột ngột cũng làm tăng nguy cơ tai nạn trong sinh hoạt, lao động hoặc tham gia giao thông. Trường hợp nghiêm trọng có thể đe dọa tính mạng. “Insulinoma là bệnh rất hiếm gặp, tỷ lệ mắc hàng năm chỉ khoảng 1-4 trường hợp trên một triệu người”, bác sỹ Phát cho biết.
Phần lớn insulinoma là khối u đơn độc và lành tính. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể liên quan hội chứng đa u tuyến nội tiết type 1 (MEN-1), trong khi một tỷ lệ nhỏ có khả năng ác tính và di căn, thường tới hạch bạch huyết hoặc gan.
Điểm khó trong phát hiện insulinoma là các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, dễ nhầm với bệnh lý thần kinh hoặc tim mạch. Người bệnh có thể xuất hiện chóng mặt, đổ mồ hôi, yếu sức, tim đập nhanh, đau đầu, lú lẫn, nhìn mờ, mệt mỏi kéo dài. Trường hợp hạ đường huyết nặng có thể co giật hoặc mất ý thức.
Theo bác sỹ Phát, hạ đường huyết lúc đói là một trong những biểu hiện điển hình của u tụy nội tiết tiết insulin. Người thường xuyên xuất hiện những cơn mệt lả, vã mồ hôi, run tay, chóng mặt hoặc ngất xỉu, đặc biệt lúc đói và cải thiện nhanh sau ăn hoặc uống đồ ngọt, cần được kiểm tra đường huyết và thăm khám chuyên khoa để tìm nguyên nhân.
-
Tin mới y tế ngày 4/10: Nâng phụ cấp, giữ chân nhân lực y tế vùng khó -
Quản lý viêm gan B từ sớm để giảm nguy cơ biến chứng -
Dự phòng sớm, điều trị trúng đích bệnh lý hô hấp -
Hiểu đúng về đề xuất hỗ trợ gia đình có hai con gái dưới 16 tuổi -
Điều trị ung thư ở phụ nữ bước sang giai đoạn cá thể hóa -
Bộ Y tế yêu cầu rà soát, gỡ sản phẩm An cung ngưu hoàng hoàn nếu vi phạm -
Giá thuốc sẽ được quản lý chặt hơn từ khâu kê khai đến hậu kiểm
-
1
Xuất khẩu điện tử 9 tháng đạt 175,4 tỷ USD, mốc 200 tỷ USD đang đến gần -
2
Gần 427 tỷ đồng xây cầu nối Cà Mau - An Giang; Khởi công tổ hợp dịch vụ tại Hòa Lạc -
3
[Insight] Phải xác định mục tiêu tăng trưởng 2 con số là nhiệm vụ của tất cả các bộ, địa phương -
4
Hoàn thiện các quy định về bù trừ, thanh toán chứng khoán khi áp dụng cơ chế CCP
-
Lynn Times Onsen Retreat Nam Hà Nội: Mảnh ghép du lịch wellness tại Ninh Bình -
Khánh thành Đại lộ Doanh nhân tại Khu công nghiệp Thành Thành Công -
Tập đoàn Daiichi Life: 124 năm tiếp nối di sản, kiến tạo tương lai -
Chứng khoán Pinetree thông báo phát hành 10 mã chứng quyền có bảo đảm mới (Kỳ 3) -
SeABank thông báo mời thầu -
Chứng khoán Pinetree thông báo phát hành 10 mã chứng quyền có bảo đảm mới (Kỳ 2)

