Thứ Hai, Ngày 27 tháng 04 năm 2026,
Yêu cầu đổi mới toàn diện mô hình đào tạo bác sỹ nội trú
D.Ngân - 27/04/2026 17:12
 
Đào tạo bác sỹ nội trú từ lâu được xem là mô hình đào tạo đặc thù, bởi hội tụ những sinh viên y khoa xuất sắc và bồi dưỡng họ trở thành lực lượng chuyên môn nòng cốt của hệ thống y tế.

Tuy nhiên, trong bối cảnh y học hiện đại đang thay đổi nhanh chóng, cùng với áp lực ngày càng lớn từ già hóa dân số và mô hình bệnh tật phức tạp, mô hình đào tạo này đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới một cách toàn diện.

Gs-Le-Ngoc-Thanh-Bac-01.jpg
Các chuyên gia cho rằng cần thay đổi tư duy từ đào tạo đơn ngành sang tiếp cận đa chuyên khoa, phù hợp với thực tiễn lâm sàng hiện nay.

GS.Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, cả nước hiện có 34 trường đại học y dược, trong đó có 13 trường đào tạo bác sỹ nội trú. Riêng hai trường đại học là Y Hà Nội và Y Dược TP.HCM chiếm tới hơn 70% tổng số bác sỹ nội trú tốt nghiệp mỗi năm với hơn 40 mã ngành đào tạo.

Tuy nhiên, chất lượng đầu ra bác sỹ nội trú suy giảm, không đồng đều; không có chuẩn chung, nhưng bằng tốt nghiệp có giá trị như nhau; phần lớn các bác sỹ nội trú ra trường đều làm việc tại bệnh viện tuyến trung ương, thành phố lớn… không có quy định thực hiện nghĩa vụ xã hội.

Theo số liệu của Bộ Y tế, sau hơn 50 năm triển khai, đến hết năm 2025 cả nước có 8.441 bác sỹ nội trú. Đây là lực lượng chiếm tới 79% số bác sỹ có trình độ sau đại học, giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực chuyên sâu như cấp cứu, hồi sức, điều trị bệnh nặng và nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên, con số này chỉ tương đương khoảng 4% tổng số bác sỹ tốt nghiệp, trong khi nhu cầu tuyển dụng từ các bệnh viện mỗi năm lên tới hàng nghìn chỉ tiêu. Sự chênh lệch giữa cung và cầu vì thế ngày càng rõ nét.

Không chỉ dừng lại ở số lượng, chất lượng đào tạo giữa các cơ sở cũng chưa đồng đều. Trong khi văn bằng bác sỹ nội trú có giá trị tương đương, chuẩn đầu ra lại chưa được chuẩn hóa thống nhất. Điều này đặt ra vấn đề về tính đồng bộ trong đào tạo và khả năng hội nhập quốc tế, khi các tiêu chí đánh giá năng lực hành nghề ngày càng khắt khe và cần minh bạch.

Một thực tế đáng chú ý khác là phần lớn bác sỹ nội trú sau khi tốt nghiệp tiếp tục làm việc tại các bệnh viện tuyến trung ương hoặc thành phố lớn có điều kiện chuyên môn và môi trường phát triển thuận lợi.

Trong khi đó, các bệnh viện tuyến dưới vẫn đối mặt với tình trạng thiếu hụt bác sỹ chuyên sâu. Việc chưa có cơ chế ràng buộc nghĩa vụ phục vụ cộng đồng khiến nguồn nhân lực chất lượng cao khó lan tỏa, làm gia tăng khoảng cách giữa các tuyến trong hệ thống y tế.

Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng cần thay đổi tư duy từ đào tạo đơn ngành sang tiếp cận đa chuyên khoa, phù hợp với thực tiễn lâm sàng hiện nay.

Người bệnh, đặc biệt là người cao tuổi, thường không chỉ mắc một bệnh mà là nhiều bệnh lý cùng lúc, đòi hỏi bác sỹ phải có cái nhìn tổng thể và khả năng phối hợp điều trị. Nếu tiếp tục duy trì cách đào tạo rời rạc theo từng chuyên khoa, hệ thống y tế sẽ khó đáp ứng được nhu cầu chăm sóc toàn diện.

So với các quốc gia phát triển, việc đào tạo bác sỹ nội trú được chuẩn hóa với hệ thống đánh giá năng lực hành nghề độc lập và cơ chế phân bổ nhân lực rõ ràng, mô hình tại Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống cần hoàn thiện.

Ở nhiều nước, bác sỹ nội trú không chỉ được đào tạo chuyên sâu mà còn có nghĩa vụ làm việc trong hệ thống y tế trong một khoảng thời gian nhất định, qua đó góp phần cân bằng nguồn lực giữa các tuyến.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu cải cách được đặt ra theo hướng toàn diện, từ chuẩn hóa đầu vào, xây dựng chương trình đào tạo kéo dài 4 đến 5 năm gắn liền với thực hành, đến thiết lập hệ thống đánh giá đầu ra thống nhất.

Đồng thời, cần có cơ chế tài chính phù hợp như hỗ trợ chi phí học tập và chế độ đãi ngộ trong thời gian đào tạo, nhằm thu hút và giữ chân những sinh viên giỏi theo đuổi con đường nội trú.

Bên cạnh đó, việc triển khai kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề thống nhất trên toàn quốc, dự kiến áp dụng trong thời gian tới, được kỳ vọng sẽ tạo ra bước chuyển quan trọng trong kiểm định chất lượng đào tạo.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số và y học cá thể hóa đang phát triển mạnh, đào tạo bác sỹ nội trú cần tích hợp thêm các năng lực mới như ứng dụng công nghệ, phân tích dữ liệu và quản lý người bệnh toàn diện.

GS.Lê Ngọc Thành cho rằng đã đến lúc cần cải cách toàn diện và đồng bộ trong đào tạo nhân lực y khoa vừa đáp ứng nhu cầu xã hội vừa hội nhập quốc tế. Theo đó thời gian đào tạo đại học là 6 năm và sau đại học là từ 3 đến 5 năm (tùy chuyên khoa).

Đại diện các cơ sở đào tạo bác sỹ nội trú, cơ sở sử dụng bác sỹ nội trú cũng đề xuất các giải pháp hình thức, thời gian đào tạo tại cơ sở thực hành cũng như tại cơ sở đào tạo như quy định về tuyển sinh đầu vào, thi tốt nghiệp đầu ra, thời điểm tham gia kỳ kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; có chính sách ưu tiên cho bác sỹ nội trú trong quá trình học được tham gia kỳ kiểm tra đánh giá năng lực cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, được hưởng lương cũng như được hỗ trợ các chi phí trong quá trình học tập.

Còn theo GS.Nguyễn Hữu Tú, Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội, trên thế giới việc đào tạo bác sỹ nội trú đã và đang có rất nhiều thay đổi.

Do vậy cần có những đánh giá toàn diện cho mô hình đào tạo bác sỹ nội trú tại Việt Nam trong tương lai. Việc đào tạo bác sỹ nội trú cần được coi là đào tạo chuyên khoa sâu (4-5 năm); đầu vào bác sỹ nội trú cũng phải được xây dựng một cách phù hợp.

GS.Nguyễn Hữu Tú cho rằng, việc đổi mới đào tạo bác sỹ nội trú là phù hợp, nhưng có lộ trình cụ thể. Hiện nay, Hội đồng Y khoa quốc gia đang chuẩn bị điều kiện để từ cuối năm 2027 tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực trên toàn quốc, các cơ sở đào tạo có thể xem xét, tích hợp hai kỳ thi này.

Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội đề xuất ba ưu tiên là tập trung xây dựng mô hình đào tạo sau đại học khối ngành sức khỏe tại Việt Nam, trong đó khẩn trương sửa đổi các quy định đào tạo sau đại học, vì các quy định hiện hành đã quá cũ, không còn phù hợp.

Bên cạnh đó, đề xuất ban hành cơ chế tài chính (lương) cho người học bác sỹ nội trú. Ngoài ra, cần xây dựng các tiêu chí đầu vào, đầu ra, chuẩn hóa chương trình đối với đào tạo bác sỹ nội trú.

Về tuyển sinh đại học khối ngành Y, Dược năm 2026 đang cho thấy một bức tranh vừa mở rộng, vừa sàng lọc chặt chẽ hơn so với các mùa tuyển sinh trước.

Điểm nổi bật đầu tiên của mùa tuyển sinh năm nay là sự suy giảm vị thế độc tôn của các tổ hợp truyền thống. Trong nhiều năm, B00 với ba môn Toán, Hóa, Sinh gần như là con đường chính dẫn vào các trường Y, Dược.

Đến năm 2026, bức tranh đó đã thay đổi rõ rệt. Hàng loạt cơ sở đào tạo không còn chỉ dựa vào một tổ hợp quen thuộc mà đã mở rộng sang các tổ hợp mới như D07 gồm Toán, Hóa, Tiếng Anh; B08 gồm Toán, Sinh, Tiếng Anh; D08 gồm Toán, Sinh, Tiếng Anh; D10 gồm Toán, Sinh, Tiếng Anh; A00 gồm Toán, Vật lý, Hóa học; A01 gồm Toán, Vật lý, Tiếng Anh; A02 gồm Toán, Vật lý, Sinh học, thậm chí D01 gồm Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh và B03 gồm Toán, Sinh học, Ngữ văn ở một số ngành cụ thể.

Một xu hướng lớn khác đang định hình mùa tuyển sinh năm 2026 là sự lên ngôi của các kỳ thi riêng. Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược TP.HCM vẫn duy trì tỷ trọng quan trọng dành cho kết quả thi tốt nghiệp THPT, nhưng đã đồng thời mở thêm cơ hội cho thí sinh có kết quả thi đánh giá năng lực của các đại học quốc gia.

Trường Đại học Y Dược thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng cả kết quả HSA, điểm thi tốt nghiệp THPT và chứng chỉ quốc tế như IELTS, SAT, ACT.

Khoa Y thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM dùng kết quả đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TP.HCM, kết hợp thêm học tập, đánh giá năng lực và thi tốt nghiệp trung học phổ thông.

Một số trường như Đại học Y Dược Thái Nguyên, Đại học Y Dược Thái Bình, Đại học Y Dược Hải Phòng, Đại học Y Dược Cần Thơ bắt đầu áp dụng V SAT. Đại học Dược Hà Nội chấp nhận cả điểm thi đánh giá tư duy của Đại học Bách khoa Hà Nội. Học viện Quân y còn có thêm bài thi đánh giá năng lực của Bộ Quốc phòng.

Đặt các phương thức này cạnh nhau có thể thấy một sự dịch chuyển rất rõ, tuyển sinh Y, Dược đang đi từ mô hình phụ thuộc nặng vào một kỳ thi chuẩn hóa duy nhất sang mô hình đánh giá đa trục.

Mỗi loại kỳ thi nhắm tới một mặt năng lực khác nhau. Thi tốt nghiệp THPT phản ánh mặt bằng kiến thức phổ thông và sự công bằng trên diện rộng. HSA, V SAT hay TSA nhấn mạnh hơn đến năng lực tư duy, phản xạ học thuật và khả năng xử lý vấn đề.

Chứng chỉ quốc tế phản ánh trình độ ngoại ngữ và phần nào khả năng hội nhập. Sự kết hợp này giúp các trường có nhiều công cụ hơn để nhận diện đúng đối tượng phù hợp. Đồng thời, nó cũng cho thấy quan niệm về “thí sinh giỏi để học Y” đang được mở rộng: không chỉ giỏi học thuộc, giỏi làm bài theo khuôn, mà còn phải có tư duy nền tảng tốt và năng lực học tập bền vững.

Tuy nhiên, mở rộng phương thức không có nghĩa là nới lỏng chuẩn đầu vào. Trái lại, điểm đáng chú ý nhất của mùa tuyển sinh năm nay chính là việc siết chặt ngưỡng bảo đảm chất lượng học lực. Theo định hướng quản lý của ngành, đối với phương thức xét học bạ, thí sinh dự tuyển vào các ngành bác sĩ, dược sĩ, răng hàm mặt, y học cổ truyền bắt buộc phải có học lực lớp 12 loại Giỏi.

Với các ngành Điều dưỡng và Kỹ thuật y học, yêu cầu tối thiểu là loại Khá. Cùng với đó, mức điểm sàn riêng cho kỳ thi tốt nghiệp THPT vẫn được duy trì như một hàng rào bắt buộc.

Tin mới về y tế ngày 4/12: Hợp tác đào tạo nâng chất lượng sinh viên y khoa
Việc ký kết hợp tác đào tạo giữa doanh nghiệp và trường đại học là bước đẩy nâng chất lượng đào tạo sinh viên y khoa.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư