Thứ Hai, Ngày 10 tháng 08 năm 2026,
Bóc tách bức tranh xuất nhập khẩu 7 tháng
Mạnh Bôn - 10/08/2026 08:17
 
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 7 tháng đầu năm nay đạt 659,58 tỷ USD, tăng hơn 28% so với cùng kỳ năm 2025. Cả số tuyệt đối lẫn tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu đều lập kỷ lục, nhưng khác với những năm trước, Việt Nam đã nhập siêu tới 20,52 tỷ USD chỉ trong vòng 7 tháng. Theo PGS-TS. Đào Ngọc Tiến, Phó hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương, cần phải bóc tách con số thâm hụt thương mại.
Trang3-Đào Ngọc Tiến (ĐHNT) (1).jpg
PGS-TS. Đào Ngọc Tiến, Phó hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương

Nhập siêu liên tục kể từ đầu năm và đạt mức kỷ lục 20,52 tỷ USD trong 7 tháng. Ông nghĩ sao về điều này?

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) mới công bố cho thấy, trong 7 tháng năm nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng hơn 28%. Trong đó, xuất khẩu tăng 21,7%, nhập khẩu tăng 34,8%. Trong suốt 7 tháng đầu năm, tốc độ nhập khẩu luôn cao hơn xuất khẩu, dẫn tới lũy kế nhập siêu càng ngày càng cao và 7 tháng đã nhập siêu tới 20,52 tỷ USD.

Tháng 6/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 100 tỷ USD (đạt 104,22 tỷ USD, tăng 36,3% so với cùng kỳ năm 2025). Đà tăng tiếp tục diễn ra trong tháng 7/2026, với cột mốc mới là 109,75 tỷ USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4% - đạt mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua và cao hơn rất nhiều so với mức 8,5% và 8,4% của 2 năm trước. Điều này phản ánh, một phần nhập siêu là máy móc, thiết bị, dây chuyền phục vụ các dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng.

Về tổng thể của nền kinh tế, xuất siêu bao giờ cũng tốt hơn nhập siêu, thưa ông?

Cần phân tách từng nhóm hàng để thấy rõ nhập siêu từ đâu. Trong tổng kim ngạch nhập khẩu, nếu không tính mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện (135,802 tỷ USD), thì trong 7 tháng, chỉ nhập khẩu 204,248 tỷ USD, xuất khẩu 234,358 tỷ USD (không tính 85,172 tỷ USD xuất khẩu mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện), tức là chúng ta vẫn xuất siêu hơn 30 tỷ USD.

Như vậy, nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu nằm ở nhóm mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện, nhưng nhập khẩu về không phải phục vụ tiêu dùng trong nước, mà là phục vụ nhu cầu thị trường thế giới. Trong những tháng gần đây, giá ram, chip trên thị trường thế giới tăng liên tục, nên doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng cường nhập khẩu để dự trữ, phục vụ nhu cầu sản xuất.

Doanh nghiệp FDI đã nhìn thấy tương lai không mấy xán lạn trong thương chiến Mỹ - Trung, Mỹ - EU và không thể dự đoán vì phụ thuộc vào ý chí chính trị chủ quan của lãnh đạo các cường quốc kinh tế. Vì vậy, để bảo đảm sản xuất không bị gián đoạn, thì cách an toàn nhất là nhập khẩu để dự trữ, có thể chấp nhận chi phí cao hơn.

Trang3.jpg
Hoạt động xuất nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2026 tiếp tục tăng trưởng cao. Ảnh: Đức Thanh

Nhập siêu cao còn có nguyên nhân là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của 2 mặt hàng chủ lực là dệt may và da giày tăng chậm?

Trong 7 tháng đầu năm nay, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của 2 nhóm hàng dệt may và da giày chỉ tăng tương ứng 1,1% và 0,7%, thấp hơn đáng kể so với tốc độ nhập khẩu nguyên liệu (bông, sợi, vải, da giày, nguyên phụ liệu). Tôi cho rằng, với chi phí nhân công ngày càng tăng do tăng lương tối thiểu vùng, trong khi chúng ta vẫn chủ yếu gia công, thì 2 mặt hàng chiến lược xuất khẩu này đã đến ngưỡng và dần chững lại.

Trong tương lai, cần thay đổi chiến lược xuất khẩu hàng dệt may, da giày và các ngành thâm dụng lao động. Thay vì gia công với giá trị gia tăng thấp, chúng ta cần phải tự chủ về nguyên liệu, phụ kiện, làm chủ khâu thiết kế.

Đặc điểm của hoạt động ngoại thương của Việt Nam, theo nhiều chuyên gia, là phụ thuộc quá lớn vào một số ít thị trường. Thưa ông, câu chuyện đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu đã được thảo luận nhiều?

ASEAN, Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm 75-80% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, nên đã có nhiều khuyến nghị là, Việt Nam cần phải đa dạng hóa thị trường cả xuất lẫn nhập để giảm thiểu rủi ro. Chẳng riêng Việt Nam, nền kinh tế nào cũng cố gắng đa dạng hóa thị trường, nhưng trên thực tế đều chăm chăm nhìn vào một số ít thị trường lớn nhất, vì các thị trường nhỏ dù đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhưng kim ngạch đem lại không nhiều.

Tôi cho rằng, một mặt, Việt Nam vẫn phải đa dạng hóa thị trường cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu, mặt khác vẫn phải theo sát 6 thị trường trọng điểm, không thể để rơi vào tay nền kinh tế khác. Để làm được điều này, các cơ quan chức năng, hiệp hội ngành hàng, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải dự báo được chính sách xuất nhập khẩu của từng thị trường để đưa ra các khuyến nghị cho doanh nghiệp, thay vì để họ xuất khẩu vào thời điểm không thuận lợi về giá, cạnh tranh lẫn nhau.

Ông có thể phân tích kỹ về các thị trường trọng điểm?

Với thị trường nhập khẩu số một là Trung Quốc, 7 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu 45,6 tỷ USD, nhưng nhập khẩu tới 138,6 tỷ USD và dù tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 30,7%, nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu là 36,6%, dẫn tới nhập siêu. Xuất khẩu vào Trung Quốc ngày càng khó khăn hơn, vì thị trường vốn được coi là dễ tính này ngày càng trở nên khó tính hơn, đặc biệt đối với những mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam khi xuất khẩu qua biên giới phía Bắc là hoa quả, nông sản, thủy sản.

Với thị trường xuất khẩu số một là Hoa Kỳ, từ đầu năm đến nay, Việt Nam xuất khẩu 104,7 tỷ USD và nhập khẩu 13,3 tỷ USD, tương ứng tăng 23% và trên 26%. Đây là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất, không chỉ là lớn nhất mà còn đem lại thặng dư thương mại lớn nhất. Xuất khẩu vào thị trường này sẽ trở nên khó khăn hơn, khi chính quyền Tổng thống Donald Trump vừa quyết định nâng thuế nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam lên 12,5%, thay vì 10%, tạo ra sức ép cạnh tranh về giá, đặc biệt với các mặt hàng sử dụng nhiều lao động. Để tiếp tục đẩy mạnh xuất hàng vào Mỹ, Việt Nam cần duy trì các phiên đàm phán hướng tới đồng thuận thương mại cân bằng, công bằng và bền vững với Hoa Kỳ.

Còn với EU, dù kim ngạch xuất nhập khẩu 2 chiều khiêm tốn hơn nhiều so với Trung Quốc và Hoa Kỳ, nhưng là thị trường đang đem lại thặng dư thương mại khá lớn cho Việt Nam. Đưa hàng vào EU luôn gắn hoạt động sản xuất với phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, chống phát thải nhà kính và các tiêu chuẩn, quy định càng ngày càng khắt khe hơn. Mặc dù vậy, Việt Nam cũng không thể “ngó lơ” thị trường này, vì vậy doanh nghiệp phải dự liệu trước để đáp ứng yêu cầu của thị trường EU.

Một vấn đề nữa thường được các chuyên gia nói đến là hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào khu vực FDI. Quan điểm của ông thế nào?

Khu vực FDI chiếm 73-78% kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Tình hình này vẫn không thay đổi, thậm chí con số còn tăng lên trong 7 tháng đầu năm nay, khi khu vực FDI xuất khẩu 255,89 tỷ USD, tăng 26,4%, chiếm trên 80%, trong khi khu vực trong nước chỉ xuất khẩu 63,64 tỷ USD, tăng 5,8%.

Lực lượng khu vực trong nước đông, nhưng số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu chưa đến 10%, quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ thị trường trong nước. Vì vậy, trong tương lai, khu vực FDI vẫn “cầm lái” hoạt động xuất nhập khẩu.

Để giải quyết bài toán này, phải có sự gắn kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, vì bản thân rất nhiều doanh nghiệp nội địa không thể tự xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm trên 90% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã định hướng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu... Nghị quyết đặt ra mục tiêu quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài, nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nếu Việt Nam thực hiện được định hướng và mục tiêu trên, thì việc khu vực FDI chiếm tỷ trọng áp đảo trong kim ngạch xuất khẩu cũng không có vấn đề gì, vì trong đó có phần đóng góp lớn của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Xuất nhập khẩu điều vượt 5,6 tỷ USD nhưng nhập siêu 400 triệu USD
Tính đến ngày 15/7, Việt Nam xuất khẩu gần 373.800 tấn hạt điều các loại, kim ngạch đạt gần 2,63 tỷ USD, trong khi nhập khẩu lên tới 3,024 tỷ...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư