-
Không thể “làm nhẹ” vai trò quản lý Nhà nước trong phòng cháy, chữa cháy -
Đề xuất cắt giảm toàn bộ điều kiện kinh doanh với dịch vụ kế toán -
Chủ tịch Quốc hội: Việt Nam - Pháp tiếp tục làm sâu sắc quan hệ hợp tác -
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân sẽ thăm chính thức Hàn Quốc, Mông Cổ -
Chủ tịch Quốc hội: Sớm đưa chính sách từ nghị trường vào cuộc sống
| GS-TS. Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế quốc dân (NEU). |
Việt Nam đã chính thức bước vào danh sách các nền kinh tế có thu nhập trung bình cao. Ông nhìn nhận gì về sự kiện này?
Đây là thành quả của 40 năm Đổi mới với những nỗ lực không ngừng nghỉ. 40 năm qua, trong khi tăng trưởng GDP bình quân của thế giới chỉ đạt 3,1%/năm, các nước trong khu vực ASEAN là 4,9%/năm, các nước đang phát triển là 4,5%/năm, thì Việt Nam đạt 6,4%/năm, cao hơn Hàn Quốc và Singapore (cùng tăng 5,8%/năm), Malaysia và Thái Lan (cùng tăng 4,9%/năm) và chỉ thấp hơn Trung Quốc (tăng 9,0%/năm).
Nhờ tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập hợp lý, nếu giai đoạn 1986-1990, GDP/người chỉ đạt 99 USD, thì 10 năm sau đã tăng gấp 5 lần, lên 498 USD. Đến năm 2010, thu nhập bình quân đầu người đã đạt 1.168 USD và Việt Nam chính thức bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2020, GDP/đầu người đạt 2.552 USD; năm 2025 đạt 5.026 USD, gấp gần 2 lần năm 2000 và Việt Nam chính thức bước vào danh sách các nước có thu nhập trung bình cao.
Mất khoảng 17 năm để “nâng hạng”, liệu có quá dài, thưa ông?
Việt Nam chỉ mất khoảng 17 năm để thay đổi vị trí từ thu nhập trung bình thấp lên thu nhập trung bình cao, trong khi Thái Lan mất 25 năm, Philippines và Indonesia phải trải qua 30-40 năm. Điều đáng nói, quá trình này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam gặp nhiều bất lợi từ bên ngoài, như cấm vận, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa, các cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế và đại dịch Covid-19.
Chúng ta có quyền tự hào khi đã đạt được nhiều thành quả kỳ diệu và đây là niềm tin vững chắc để chúng ta kiên định đường lối phát triển theo quan điểm của Nghị quyết 19-NQ/TW là huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực phát triển, trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro.
![]() |
| Nghị quyết 19-NQ/TW xác định, mô hình phát triển mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo là động lực chính. Ảnh: Đ.T |
Không chỉ thành công trong phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập của người dân, thành công của Việt Nam qua 40 năm Đổi mới còn là nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm sự công bằng trong xã hội?
Phát triển kinh tế, tăng thu nhập là điều kiện cần để thực hiện mục tiêu phát triển xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Cộng đồng quốc tế không chỉ đánh giá rất cao sự phát triển kinh tế của nước ta trong suốt 40 năm qua, mà còn đánh giá rất cao thành công của Việt Nam trong phát triển một xã hội công bằng.
Để phản ánh bức tranh toàn diện về đời sống người dân của một quốc gia, thay vì chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế hay GDP, thế giới sử dụng Chỉ số Phát triển con người (HDI). Đầu những năm Đổi mới, HDI của Việt Nam chỉ đạt 0,499 điểm, đứng thứ 122/130 nước được xếp hạng. Cùng với phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm phát triển con người. Nhờ đó, hiện tại, HDI của Việt Nam đạt 0,766 điểm, xếp thứ 93/193 quốc gia, đứng ngang với nhiều nước phát triển. Đây là thành công rất lớn, thể hiện bản chất của xã hội Việt Nam.
Những thành tựu về phát triển con người là cơ sở để thực hiện quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững, bao trùm trong Nghị quyết 19-NQ/TW.
Thưa ông, không thể phủ nhận là, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, nhưng sự bất công bằng trong thu nhập thì sao?
Một đất nước giàu có, nhưng chỉ một số ít người nắm đa số tài sản trong xã hội sẽ tạo ra sự bất công bằng. Bất công bằng càng lớn thì dẫn tới bất ổn xã hội càng cao. Nếu tính từ năm 1991 đến năm 2020, trong 30 năm chia ra 3 giai đoạn 10 năm, thì sự bất bình đẳng trong thu nhập của Việt Nam tăng từ 7,43 lần lên 8,90 lần và 9,35 lần. Tức là từ năm 2001 đến năm 2020, sự bất công bằng trong thu nhập tăng lên và nằm trong nhóm “bất công bằng vừa” theo tiêu chuẩn thế giới (khoảng cách giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất từ 8-10 lần).
Nhưng nhờ các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cho người già, người yếu thế, người nghèo... của Đảng và Nhà nước, nên trong giai đoạn 2021-2025, độ giãn cách về thu nhập của Việt Nam đã giảm xuống còn 7,21 lần, tức là nằm trong nhóm “bất công bằng thấp”.
Thu hẹp khoảng cách bất công bằng không phải là hạn chế thu nhập của người giàu, mà khuyến khích người dân đầu tư, kinh doanh để giàu hơn, đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhóm yếu thế thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Tôi tin rằng, Chỉ số HDI của Việt Nam tiếp tục được cải thiện khi hàng loạt chính sách an sinh xã hội đang được triển khai, từ miễn học phí, chăm sóc sức khỏe đến hỗ trợ người già, người yếu thế và phát triển nhà ở xã hội.
Bên cạnh kết quả đạt được, theo ông, còn những hạn chế gì?
Việc chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng trong suốt 30 năm qua là điểm tích cực, nhưng thực chất lại dựa chủ yếu vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Giai đoạn 1996-2025, nếu tăng trưởng bình quân của khu vực FDI đạt 10,6%/năm, thì khu vực trong nước chỉ là 5,8%/năm; kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng gần 16%/năm thì khu vực trong nước chỉ tăng 10,5%. Đặc biệt, khu vực FDI xuất siêu lớn, chủ yếu ở hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, trong khi khu vực trong nước nhập siêu và hầu như chưa tham gia xuất khẩu nhóm hàng này.
Doanh nghiệp nội địa, cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, đều hoạt động kém hơn doanh nghiệp FDI rất nhiều. Cụ thể, doanh nghiệp FDI chỉ nắm giữ 19,5% vốn của khu vực doanh nghiệp, nhưng chiếm 44% lợi nhuận; còn doanh nghiệp tư nhân chiếm 59,4% vốn, nhưng chỉ chiếm 35,6% lợi nhuận; doanh nghiệp nhà nước cũng không khá hơn, khi nắm giữ hơn 21% vốn, mà chỉ chiếm 20,4% lợi nhuận trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp.
Nghị quyết 19-NQ/TW xác định, mô hình phát triển mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo là động lực chính. Nhưng chi cho R&D của nước ta mới tương đương 0,43% GDP, chưa bằng nửa bình quân mức chi của thế giới và thấp hơn rất nhiều so với nhiều nước trên thế giới.
Cùng với đó, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, nhưng chi cho giáo dục mới tương đương 2,9% GDP, thấp hơn rất nhiều so với khuyến cáo của UNESCO là 4-6% GDP. Chi cho y tế có nhiều tiến bộ, nhưng cũng mới chỉ tương đương 4,59% GDP, thấp hơn mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là tối thiểu 5% GDP.
Thực hiện đổi mới mô hình phát triển theo tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW có cả thuận lợi và khó khăn, theo ông, cần phải tiến hành những việc gì trước?
Trước khi ban hành Nghị quyết 19-NQ/TW, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách, mục tiêu chiến lược, đột phá, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện về mô hình phát triển đất nước trong thời gian tới
Tôi cho rằng, bắt tay ngay thực hiện các nghị quyết đã được ban hành chính là bước đầu thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW, hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước.
Cụ thể, để phát triển kinh tế với mục tiêu trước mắt là tăng trưởng 2 con số, Đảng đã ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Để phát triển xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, đã có Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, nhận thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 72-NQ/TW xác định bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, động lực và nhiệm vụ chính trị hàng đầu, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam khẳng định, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
-
Đang có nhiều điều kiện để đổi mới mô hình phát triển -
Chủ tịch Quốc hội: Sớm đưa chính sách từ nghị trường vào cuộc sống -
Thủ tướng chỉ đạo tập trung cao độ, quyết liệt thực hiện 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm -
Chấm điểm KPI giải ngân đầu tư công: “Soi” điểm số của các bộ, ngành, địa phương -
Quảng Trị: Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế vào Ban Thường vụ Tỉnh uỷ -
Cơ bản tán thành bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát khi sửa Luật Chứng khoán -
700 đại biểu dự Diễn đàn hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản năm 2026
-
Báo cáo thường niên PVFCCo - Phú Mỹ xếp thứ hai toàn cầu tại LACP Vision Awards -
HD SAISON công bố thông tin được chấp thuận nguyên tắc chuyển đổi hình thức pháp lý -
Một mã QR, đa dạng đầu vào: VPBank SME mở cơ hội đón khách quốc tế cho doanh nghiệp Việt -
Phú Tài công bố việc góp vốn 950.000 USD, lập công ty con đầu tư tại Mỹ -
Công ty xi măng Long Sơn chúc mừng ngày Quốc khánh 2/9 -
Vận hành tích hợp là nền tảng của sản xuất thông minh

