Báo Đầu Tư
Thứ Năm, Ngày 29 tháng 10 năm 2026,
Định vị Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu: Cơ hội từ dòng vốn đầu tư thế hệ mới
Trọng Tín - 29/10/2026 10:49
  Print
Dòng vốn đầu tư thế hệ mới mở ra cơ hội để Việt Nam nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, thu hút đầu tư cần đi đôi với phát triển công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa.

Nhà đầu tư quốc tế nhìn thấy những cơ hội mới

Sau gần 15 năm lựa chọn Việt Nam làm trung tâm sản xuất, ITO Group tiếp tục mở rộng đầu tư với dự án nhà máy mới tại Khu chế xuất Linh Trung, TP.HCM. Ông Peter James Opdahl, Chủ tịch ITO Group chia sẻ, quyết định này phản ánh niềm tin của doanh nghiệp vào triển vọng dài hạn của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao và tự động hóa sản xuất.

ITO Group là doanh nghiệp cung cấp giải pháp tự động hóa công nghiệp, với tổng giá trị thiết bị đã cung cấp trên toàn cầu đạt gần 1 tỷ USD. Nhà máy mới rộng 12.000 m2 tại Khu chế xuất Linh Trung sẽ phục vụ hoạt động sản xuất thiết bị cho nhiều ngành công nghiệp.

Đáng chú ý, đây là dự án đầu tiên được chấp thuận theo cơ chế thủ tục đầu tư đặc biệt “luồng xanh” của Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp TP.HCM. Theo ông Opdahl, cơ chế này giúp doanh nghiệp rút ngắn quá trình triển khai, đồng thời củng cố niềm tin vào môi trường đầu tư.

4-AEF.jpg
Các đại biểu tham dự Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026. Ảnh: Lê Toàn

Việc ITO Group tiếp tục mở rộng hoạt động cho thấy Việt Nam vẫn có vị trí trong chiến lược sản xuất của các tập đoàn quốc tế. Tuy nhiên, cơ hội đầu tư đang được quan tâm không còn giới hạn ở việc xây dựng nhà máy, mà mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ mới, dịch vụ và phát triển thị trường.

Từng tham gia các hoạt động đầu tư của Intel tại TP.HCM khoảng 20 năm trước, ông Ge Jun, Giám đốc điều hành TOJOY Enterprise Services, nhìn thấy những cơ hội mới khi trở lại Việt Nam lần này, nhân sự kiện Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, diễn ra từ ngày 26-29/10, tại TP.HCM.

TOJOY đang vận hành nền tảng kết nối hơn 7 triệu doanh nhân trên toàn cầu, hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế. Khi trở lại TP.HCM, doanh nghiệp giới thiệu 3 nhóm dự án trong các lĩnh vực kinh tế tầm thấp, thiết bị dịch vụ thông minh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và robot xây dựng, được đánh giá có tiềm năng phát triển tại Việt Nam.

Ở lĩnh vực kinh tế tầm thấp, TOJOY hướng đến những ứng dụng phục vụ du lịch, vận tải đô thị và logistics khẩn cấp. Doanh nghiệp dự kiến phối hợp với chính quyền và đối tác địa phương triển khai từ 3 đến 5 dự án thí điểm, hướng đến đưa vào vận hành từ năm 2027.

Đối với thiết bị dịch vụ thông minh ứng dụng AI, kế hoạch trước mắt là triển khai 500 thiết bị tại những địa điểm có lưu lượng người sử dụng lớn, với tổng vốn ước tính từ 1,5 đến 3 triệu USD. Về dài hạn, doanh nghiệp đặt mục tiêu mở rộng mạng lưới lên hơn 2.000 thiết bị.

Trong lĩnh vực xây dựng, TOJOY dự kiến đưa khoảng 30 robot thông minh vào giai đoạn triển khai đầu tiên, sau đó từng bước mở rộng lên khoảng 300 robot. Những công nghệ này hướng đến tự động hóa một số công đoạn thi công, nâng cao năng suất và cải thiện an toàn lao động.

Các kế hoạch trên vẫn ở giai đoạn đề xuất, nhưng cho thấy sự quan tâm của doanh nghiệp quốc tế đối với khả năng ứng dụng và thương mại hóa công nghệ tại Việt Nam. Theo ông Ge Jun, cả 3 nhóm dự án đều được định hướng nội địa hóa thông qua hợp tác với doanh nghiệp trong nước và điều chỉnh giải pháp công nghệ theo điều kiện thực tế.

Nếu ITO Group và TOJOY nhìn thấy tiềm năng từ nền tảng sản xuất và khả năng ứng dụng công nghệ, thì Amazon Global Selling đánh giá cao cơ hội đưa hàng hóa Việt Nam tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu.

Ông Larry Hu, Giám đốc Amazon Global Selling khu vực Đông Nam Á nhận định, Việt Nam đang nổi lên như một điểm sáng nhờ năng lực sản xuất, lực lượng lao động trẻ am hiểu công nghệ và tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ. Đây cũng là lý do Amazon Global Selling lựa chọn Việt Nam làm trung tâm hoạt động tại Đông Nam Á từ năm 2025.

Trong 1 năm, số lượng sản phẩm Việt Nam bán ra trên Amazon tăng khoảng 35%, trong khi số nhà bán hàng Việt Nam đăng ký thương hiệu tăng gần 30%. Những kết quả này cho thấy tiềm năng phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới. Thay vì chỉ tham gia sản xuất theo đơn hàng, doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội xây dựng thương hiệu, mở rộng kênh phân phối và tiếp cận trực tiếp thị trường quốc tế.

Amazon Global Selling mong muốn tăng cường hợp tác với các địa phương để xác định những ngành hàng, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng toàn cầu.

Nâng chất lượng dòng vốn, gia tăng giá trị nội địa

Những kế hoạch đầu tư vào sản xuất công nghệ cao, AI, thương mại điện tử và hạ tầng số phản ánh cơ hội của Việt Nam trong quá trình dịch chuyển dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra không chỉ là khả năng thu hút dự án, mà còn là điều kiện để dòng vốn được duy trì và tạo ra giá trị trong nền kinh tế.

Theo ông Fazurin Jamaludin, Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam và Lào, Việt Nam có cơ hội hưởng lợi từ làn sóng phát triển công nghệ dựa trên AI, nhưng đồng thời dễ bị tác động từ các cú sốc năng lượng. Trong khi đó, chuỗi cung ứng phục vụ AI vẫn tập trung cao vào một số ít nền kinh tế, tạo ra những rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng.

Đại diện IMF cũng đặc biệt lưu ý những vấn đề cơ cấu cần giải quyết để củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững. Trong đó, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam đã giảm đều trong những năm gần đây. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm việc một số doanh nghiệp bị hạn chế khả năng tiếp cận vốn và nguồn lực chưa được phân bổ đồng đều trong nền kinh tế.

Vì vậy, đại diện IMF cho rằng, cải cách cơ cấu cần được xem là một ưu tiên nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đồng thời, Việt Nam cần tiếp tục hiện đại hóa khung khổ chính sách tiền tệ và tài khóa, củng cố uy tín chính sách và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Nếu ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện để duy trì sức hấp dẫn đầu tư, thì khả năng tạo giá trị trong nước lại quyết định mức độ đóng góp của dòng vốn đối với tăng trưởng dài hạn. Ở khía cạnh này, PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC cho rằng, quy mô thu hút FDI và xuất khẩu của Việt Nam đã đạt những kết quả đáng kể, nhưng năng lực tạo giá trị trong nước vẫn còn nhiều dư địa cải thiện.

Dẫn số liệu từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), ông Huân cho biết, giá trị gia tăng có nguồn gốc nước ngoài chiếm khoảng 48%; 52% còn lại được tạo ra trong nước, trong đó bao gồm cả phần đóng góp của doanh nghiệp FDI. Trong các dự án công bố giai đoạn 2020-2024, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) chỉ chiếm 1,9% tổng vốn đầu tư.

Do đó, Việt Nam cần khẩn trương thu hút dòng vốn thế hệ mới gắn với R&D, đào tạo kỹ sư, hợp tác công nghệ, đồng thời nâng cao năng lực của các nhà cung ứng trong nước. Điều này cũng phù hợp với Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt.

Để thực hiện quá trình chuyển đổi đó, việc nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước phải đi cùng với phát triển hệ sinh thái sản xuất đáp ứng những yêu cầu mới của thị trường quốc tế.

Bà Ishita Dhamani, đối tác cấp cao mảng dịch vụ tư vấn chuỗi cung ứng của Ernst & Young Advisory (EY Singapore) cho rằng, năng lực cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào hiệu quả của từng nhà máy, mà còn ở khả năng kết nối sản xuất, logistics, năng lượng và dữ liệu. Các tiêu chuẩn về giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin đang ngày càng ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế.

Vì vậy, doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ số để kết nối dữ liệu giữa các khâu sản xuất, vận chuyển và sử dụng năng lượng. Đồng thời, việc phát triển logistics thông minh, giảm phát thải và tăng cường hợp tác công - tư sẽ góp phần nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng.

Những yêu cầu này cũng phù hợp với đánh giá của các nhà đầu tư như ITO Group và TOJOY về sự cần thiết phải phát triển doanh nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhân lực và nội địa hóa công nghệ. Tuy nhiên, quá trình nâng cấp công nghệ, hạ tầng và năng lực doanh nghiệp đòi hỏi nguồn vốn dài hạn cùng cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp.

Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với việc phát triển VIFC-HCMC. Theo ông Nguyễn Hữu Huân, việc thu hút đầu tư cần gắn với mục tiêu phát triển nhà cung ứng trong nước, đào tạo nhân lực, nghiên cứu, thiết kế và thương mại hóa công nghệ. Hiệu quả của dòng vốn phải được đánh giá bằng năng suất, năng lực công nghệ và giá trị gia tăng tạo ra trong nền kinh tế.

Việt Nam không chỉ mong muốn trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư công nghệ mới, mà còn quyết tâm trở thành đối tác tin cậy, mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu, trung tâm kết nối đổi mới sáng tạo và là nơi cùng các đối tác kiến tạo những mô hình phát triển, động lực tăng trưởng mới.

Để cùng phát huy tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới, chúng tôi mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư tại Việt Nam, mà đầu tư cùng Việt Nam; không chỉ sản xuất tại Việt Nam, mà còn cùng nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới có sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu.

Trích phát biểu khai mạc Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng
Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 hướng tới tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới
Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 hướng tới tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới
Thông điệp chính năm nay là chuyển từ ứng phó với biến động sang chủ động kiến tạo quan hệ đối tác, xây dựng lòng tin và cùng phát triển các...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư