-
Cổ phiếu chứng khoán sau IPO: Nhà đầu tư đang lời hay lỗ?
-
Vàng trong nước mất hơn 50 triệu đồng/lượng so với đầu năm, vàng thế giới chật vật giữ mốc 4.000 USD/ounce
-
Vốn xanh không thể chỉ dựa vào ngân hàng
-
Sếp VinaCapital chỉ ra cơ hội lớn khi gia nhập Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM
-
Từ tài sản đến di sản: Chương mới của quản trị gia sản tại Việt Nam -
Techcombank triển khai bộ giải pháp tài chính hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số
![]() |
Ngân hàng đua phát hành trái phiếu dài hạn
Theo Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam, tính từ đầu năm đến ngày công bố thông tin 16/10, ngân hàng chiếm 53,6% tổng giá trị phát hành toàn thị trường trái phiếu.
Mặc dù lãi suất huy động đã phần nào hạ nhiệt, song nửa đầu tháng 10/2026, lãi suất trái phiếu của nhóm ngân hàng vẫn đứng ở mức cao, quanh mức 9,5-9,6%.
Theo VIS Rating, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng để thúc tăng trưởng. Việt Nam cần khoảng 245 tỷ USD để đầu tư cơ sở hạ tầng trong giai đoạn 2025 - 2030, trong đó nguồn vốn công dự kiến đáp ứng khoảng 70%. Trong khi đó, khả năng cung cấp vốn dài hạn của các ngân hàng bị hạn chế bởi chênh lệch kỳ hạn, giới hạn tập trung tín dụng và các yêu cầu về vốn. Đến cuối tháng 9/2026, ngân hàng chiếm khoảng 46% tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành (cập nhật thời điểm giữa tháng 10/2026 là 53,6% - PV).
"Tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tăng trưởng tiền gửi làm gia tăng nhu cầu huy động nguồn vốn dài hạn của các ngân hàng. Trái phiếu ưu tiên không có bảo đảm giúp đa dạng hóa nguồn vốn và kéo dài kỳ hạn, trong khi trái phiếu tăng vốn cấp 2 còn giúp bổ sung vốn tự có cho ngân hàng", VIS Rating cho biết.
Mặc dù các nhà băng huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng qua kênh trái phiếu từ đầu năm đến nay, song điều bất cập là đa phần trái phiếu được phát hành không được xếp hạng tín nhiệm.
Theo VIS Rating, cuối năm 2025, chỉ 2 trong số 28 ngân hàng thương mại thuộc phạm vi phân tích của công ty này có trái phiếu được xếp hạng tín nhiệm trong nước, tương đương khoảng 7% trái phiếu phát hành được xếp hạng tín nhiệm. Con số này quá thấp so với mức 60% tại Thái Lan và trên 75% tại Malaysia, Hàn Quốc và Trung Quốc. Việc ít trái phiếu được xếp hạng khiến nhà đầu tư khó so sánh mức độ rủi ro giữa các ngân hàng - nhóm phát hành lớn nhất trên thị trường trái phiếu Việt Nam.
Trái phiếu thứ cấp ngân hàng bùng nổ
Theo VIS Rating, thực tế tại Việt Nam cho thấy các vấn đề tín dụng thường tái diễn, trong khi kết quả tái cơ cấu khác nhau đáng kể giữa các ngân hàng. Việc một số ngân hàng Việt Nam gặp khó khăn tài chính thường bắt nguồn từ tình trạng tập trung tín dụng, cho vay các bên liên quan và những hạn chế trong hệ thống kiểm soát.
Trước đây, Habubank là một ví dụ về rủi ro tập trung tín dụng. Trong khi đó, trường hợp Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) cho thấy những yếu kém trong quản trị và hoạt động cho vay các bên liên quan có thể làm suy giảm niềm tin, dẫn đến khủng hoảng thanh khoản. Sự can thiệp của cơ quan quản lý có thể góp phần ổn định hệ thống tài chính, nhưng không chứng minh được khả năng trả nợ của ngân hàng hay bảo đảm trái phiếu sẽ được thanh toán đúng hạn. Mức độ bảo vệ trái chủ còn phụ thuộc vào thời điểm, hình thức và phạm vi hỗ trợ.
Chính từ bài học thực tiễn này, các chuyên gia cảnh báo khi trái phiếu ngân hàng đang được phát hành rầm rộ. Theo VIS Rating, đến cuối tháng 9/2026, giá trị trái phiếu thứ cấp đã vượt 400.000 tỷ đồng, chiếm gần 60% tổng giá trị trái phiếu ngân hàng đang lưu hành.
Khi quy mô trái phiếu thứ cấp tăng, nhà đầu tư càng cần phân biệt rõ sức khỏe tín dụng của ngân hàng với rủi ro riêng của từng loại trái phiếu. Khung vốn mới của Việt Nam phân chia vốn ngân hàng thành vốn lõi cấp 1 (CET1), công cụ bổ sung vốn cấp 1 (AT1) và vốn cấp 2 (Tier 2).
Theo các chuyên gia phân tích, trái phiếu thứ cấp của ngân hàng có lợi suất cao, song rủi ro đi kèm cũng rất cao. Cụ thể, trái chủ Trái phiếu Tier 2 có thể bị hoãn trả lãi và có mức thu hồi thấp hơn. Theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN, ngân hàng được phép hoãn trả lãi nếu việc thanh toán khiến ngân hàng phát sinh lỗ trong năm. Khoản lãi này được chuyển sang các kỳ sau, không bị hủy. Do Tier 2 được thanh toán sau các chủ nợ ưu tiên, nhà đầu tư có thể thu hồi ít hơn khi ngân hàng gặp khó khăn. Tuy nhiên, Tier 2 hiện nay tại Việt Nam không có cơ chế ghi giảm vốn gốc hoặc ngưỡng kích hoạt CET1 ở mức 5,125% như AT1. Rủi ro này đặc biệt đáng lưu ý với nhà đầu tư cá nhân, vốn nắm giữ khoảng 30% - 45% tại một số đợt chào bán Tier 2 ra công chúng của một vài ngân hàng quốc doanh trong sáu tháng đầu năm 2026.
Tất nhiên, tỷ lệ này không đại diện cho toàn bộ thị trường Tier 2. Việc trái phiếu Tier 2 được tính vào vốn tự có, ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống hoặc có khả năng được hỗ trợ không loại bỏ rủi ro hoãn trả lãi và thu hồi vốn thấp hơn cho các trái phiếu này.
Các công cụ AT1 có rủi ro không được trả lãi và mất vốn gốc cao hơn. AT1 có thứ tự thanh toán sau Tier 2, không có ngày đáo hạn theo hợp đồng và cho phép ngân hàng chủ động hủy thanh toán lãi mà không bị coi là vi phạm hợp đồng. Việc trả lãi phụ thuộc vào lợi nhuận chưa phân phối hiện có và quyết định của ngân hàng. Ngân hàng chỉ được mua lại công cụ sau ít nhất năm năm, với điều kiện được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận và đáp ứng các yêu cầu về vốn; vì vậy, nhà đầu tư không được bảo đảm sẽ được mua lại.
AT1 được phân loại là nợ sẽ được chuyển đổi thành cổ phần hoặc bị ghi giảm giá trị gốc nếu tỷ lệ CET1 xuống dưới 5.125%. Việc chuyển đổi hoặc ghi giảm phải đủ để đưa CET1 trở lại mức 5.125%; nếu không, toàn bộ vốn gốc AT1 sẽ bị ghi giảm. Ngân hàng vẫn có thể hủy trả lãi ngay cả khi CET1 cao hơn ngưỡng này. Vì vậy, sự hỗ trợ của cơ quan quản lý có thể giúp ngân hàng tiếp tục hoạt động nhưng không nhất thiết bảo vệ nhà đầu tư AT1.
Các chuyên gia phân tích VIS Rating khuyến cáo vấn đề cốt lõi đối với Việt Nam: hoạt động giám sát và khả năng được cơ quan quản lý hỗ trợ không thể thay thế cho việc đánh giá rủi ro tín dụng của từng ngân hàng. Việc đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng cần xem xét toàn diện chất lượng tài sản, mức độ tập trung tín dụng, năng lực vốn, khả năng duy trì nguồn vốn ổn định và chất lượng quản trị. Chỉ dựa vào tỷ lệ an toàn vốn được công bố hoặc vai trò của ngân hàng trong hệ thống là chưa đủ để kết luận ngân hàng có khả năng trả nợ.
Khi nợ thứ cấp và các công cụ hấp thụ tổn thất khác ngày càng trở nên phổ biến, xếp hạng tổ chức phát hành và xếp hạng công cụ nợ có thể giúp nhà đầu tư phân biệt giữa sức khỏe tín nhiệm của ngân hàng với rủi ro thanh toán và khả năng thu hồi vốn. Xếp hạng tín nhiệm độc lập và hoạt động theo dõi liên tục có thể bổ trợ cho công tác giám sát của cơ quan quản lý và phân tích riêng của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, chuyên gia cũng cho rằng, xếp hạng tín nhiệm không thay thế cho quá trình thẩm định, không bảo đảm nghĩa vụ nợ sẽ được thanh toán, cũng như không bảo đảm những yếu kém tiềm ẩn trong quản trị sẽ được phát hiện trước khi ngân hàng rơi vào khó khăn.
-
Từ tài sản đến di sản: Chương mới của quản trị gia sản tại Việt Nam -
Techcombank triển khai bộ giải pháp tài chính hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số -
Lãi suất cho vay chỉ giảm với 3-5% danh mục cho vay của các nhà băng -
SHS khẳng định năng lực Ngân hàng Đầu tư quốc tế qua thương vụ trái phiếu 229 triệu SGD của SHB tại Singapore -
SACOMBANK bổ nhiệm ông Nguyễn Xuân Ái Quốc làm Phó tổng giám đốc -
Nới trần LDR không phải “tấm vé” chung cho mọi ngân hàng -
VCBNeo đẩy mạnh số hóa vận hành, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ
-
Wipro Consumer Care Vietnam lần thứ tư liên tiếp được vinh danh tại APEA 2026
-
Kế toán Anpha: Đơn vị cung cấp dịch vụ thành lập công ty trọn gói uy tín trên toàn quốc
-
Ecopark Hưng Yên: Đô thị xanh và nhịp sống đã hình thành
-
Generali Việt Nam tiếp tục được vinh danh với hai giải thưởng tại APEA 2026
-
Công bố Top 10 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2026 ngành Truyền thông - Quảng cáo - Nội dung số
-
Công bố Top 10 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2026 ngành Năng lượng - Dầu khí
