-
Nhìn lại nợ xấu từ toàn bộ chu kỳ tín dụng -
4 "mã gen" giúp nhà đầu tư tự chủ để "đón sóng" 2026 -
Chứng khoán phiên 14/1: VN-Index điều chỉnh trước sức ép của loạt cổ phiếu trụ -
VNSC chính thức đổi tên thành Chứng khoán Finhay -
Cập nhật giá đơn vị Quỹ liên kết đơn vị của AIA Việt Nam ngày 14/1/2026 -
Lãi suất, thanh khoản hạ nhiệt, NHNN liên tục hút ròng hơn 60.000 tỷ đồng
Thống kê cho thấy, trong quý III/2025, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) toàn ngành ngân hàng đạt 83,93%, cải thiện so với hai quý đầu năm, khi tăng từ mức 79,32% của quý II. Đây được coi là giai đoạn mà các ngân hàng bắt đầu “lấy lại thăng bằng” sau chu kỳ nợ xấu tăng trong năm 2023-2024, khi thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và hoạt động sản xuất - dịch vụ chịu nhiều áp lực.
Để lý giải biến động LLR, cần xem xét hai yếu tố chính: số dư dự phòng trích lập trong kỳ và diễn biến quy mô nợ xấu. Tổng nợ xấu của các ngân hàng niêm yết tăng 8,1% so với cùng kỳ - mức tăng đã chậm lại rõ rệt so với giai đoạn 2022-2024. Ở chiều ngược lại, quy mô dự phòng đạt khoảng 230.000 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ và 11,3% so với đầu năm, cao hơn mức tăng trung bình 8% từ năm 2023 đến nay. Diễn biến này cho thấy, các ngân hàng duy trì chiến lược “tăng bộ đệm phòng thủ” trước khi mở rộng tín dụng trong quý cuối năm - giai đoạn tăng trưởng cao nhất trong chu kỳ kinh doanh ngân hàng.
Riêng trong quý III/2025, ngành ngân hàng trích lập hơn 35.500 tỷ đồng dự phòng. Dự phòng chung tăng mạnh 14,85% so với cuối năm 2024 (tăng 20,7% so với cùng kỳ). Khối ngân hàng quốc doanh dẫn đầu về tỷ lệ LLR, đạt 139,1% trong quý III. Ở nhóm ngân hàng tư nhân, các ngân hàng bán lẻ nâng tỷ lệ LLR từ 61,84% lên 64,4% nhờ nợ xấu chỉ tăng 8,5% - mức thấp nhất từ đầu năm 2022.
Theo FiinGroup, chất lượng tài sản đang dần ổn định trở lại, lợi nhuận ngân hàng quý III/2025 tăng 24,9% so với cùng kỳ - mức cao nhất trong 7 quý nhờ thu nhập ngoài lãi tăng và chi phí dự phòng giảm. Một yếu tố khác góp phần cải thiện là việc nhiều ngân hàng đẩy nhanh xử lý tài sản bảo đảm, thanh lý nợ và chủ động siết các khoản vay có rủi ro tiềm ẩn.
Chi phí dự phòng chỉ tăng nhẹ, cho thấy áp lực bổ sung dự phòng không lớn. Nhiều ngân hàng ưu tiên dành nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng khác, thay vì mở rộng trích lập. Điều này phản ánh kỳ vọng chu kỳ nợ xấu lớn nhất đã qua và nền kinh tế đang quay lại trạng thái ổn định hơn, đặc biệt sau khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt và nhu cầu tín dụng phục hồi.
Hệ thống ngân hàng đang ghi nhận tín hiệu tích cực: nợ xấu được kiểm soát tốt, tín dụng phục hồi và lợi nhuận bứt phá. Tính đến ngày 30/10, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 15% so với cuối năm 2024 và có thể đạt 19-20% vào cuối năm 2025. Việc dòng vốn được khơi thông, cùng với quản trị rủi ro và xử lý nợ cải thiện, đang giúp bức tranh tài chính của nhiều ngân hàng sáng hơn. Nhờ tái cơ cấu tín dụng và tăng trích lập, chất lượng tài sản ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực.
Tại ACB, tỷ lệ LLR đạt 84% trong quý III/2025, tăng từ mức 76% quý II và 72% quý I. Với 96% dư nợ có tài sản bảo đảm, ACB cho rằng, mức dự phòng hiện tại là phù hợp và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững.
Dữ liệu FiinGroup cho thấy, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của 27 ngân hàng giảm từ 2,1% quý I, xuống 2% cuối quý III/2025. Dù mức giảm chưa lớn, nhưng đây vẫn là tín hiệu ổn định khi tỷ lệ tạo mới nợ xấu duy trì ở mức rất thấp.
Tỷ lệ nợ cần chú ý (SML) tăng nhẹ lên 1,4%, tập trung ở một số ngân hàng. Một số ngân hàng tăng trích lập dù nợ xấu giảm như VietinBank, VPBank, Techcombank, ACB, VIB, BVBank.
LLR tiếp tục phân hóa mạnh. Hiện có 4 ngân hàng duy trì tỷ lệ trên 100% là Vietcombank, VietinBank, Techcombank và Bac A Bank. BIDV giảm từ 133,7% cuối năm 2024 xuống còn 94,5% cuối quý III/2025. Vietcombank vẫn dẫn đầu với 201,9%, dù giảm 21 điểm phần trăm so với cuối năm ngoái. Techcombank đạt 176,5%, tăng 6 điểm phần trăm và 119,2%, tăng 5 điểm phần trăm so với cuối 2024. Bac A Bank tiếp tục nằm trong nhóm vượt 100%.
Top tiếp theo gồm BIDV, Sacombank, ACB, MB, Kienlongbank, LPBank. Trong đó, Sacombank và ACB ghi nhận tỷ lệ bao phủ tăng tương ứng 25 điểm phần trăm và 6 điểm phần trăm. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao cho thấy ngân hàng chuẩn bị tốt cho rủi ro, nhưng cũng làm giảm lợi nhuận, nên mỗi nhà băng đều tính toán mức dự phòng hợp lý. Sự phân hóa giữa các nhóm ngày càng rõ, trong khi khối ngân hàng quốc doanh ưu tiên tăng bộ đệm sau giai đoạn nợ xấu tăng, thì nhóm ngân hàng bán lẻ và quy mô nhỏ cải thiện tỷ lệ bao phủ nhờ kiểm soát phát sinh nợ xấu và trích lập vừa phải.
Những chuyển biến này cho thấy, hệ thống ngân hàng đang bước vào giai đoạn ổn định hơn, với nền tảng dự phòng vững và dư địa cải thiện chất lượng tài sản rõ rệt trong thời gian tới.
-
Cập nhật giá đơn vị Quỹ liên kết đơn vị của AIA Việt Nam ngày 14/1/2026 -
Lãi suất, thanh khoản hạ nhiệt, NHNN liên tục hút ròng hơn 60.000 tỷ đồng -
Bạc tăng gần 30% trong nửa tháng, vàng phá vỡ mọi kỷ lục khi các ngân hàng trung ương đẩy mạnh mua vào -
Kỳ vọng cổ phiếu 4 nhóm ngành "hút tiền" đầu năm 2026 -
Lợi nhuận trước thuế của Nam A Bank tăng 15,6% trong 2025 -
TCBS: Lợi nhuận năm 2025 đạt kỷ lục hơn 7.100 tỷ đồng -
DIC Corp tiếp tục muốn mua lại 800 tỷ đồng trái phiếu trước hạn
-
1
Soi kết quả hoạt động năm 2025 của doanh nghiệp khai thác 2 tuyến metro Hà Nội -
2
Tin vắn Đầu tư Online ngày 8/1 -
3
Giao ACV làm chủ đầu tư giai đoạn 2 Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành -
4
Tin vắn Đầu tư Online ngày 14/1 -
5
Cải cách môi trường kinh doanh năm 2026: Cuộc đua vì sự trở lại năng động của doanh nghiệp
-
Tập đoàn xe lửa hàng đầu Trung Quốc hợp tác Sun Group phát triển tuyến tàu điện đô thị LRT Phú Quốc -
Quà tặng Maison Gift JSC: Tạo dựng những kết nối tình cảm, tôn vinh truyền thống Việt -
Diễn đàn Kết nối doanh nghiệp khí Việt Nam với chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế -
Japfa giữ vững vị thế Top 10 công ty thức ăn chăn nuôi uy tín
-
Nha khoa Phương Thành khai trương trụ sở tại Cao Lãnh, Đồng Tháp -
Vietcombank năm 2025: Bản lĩnh ngân hàng trụ cột trong chu kỳ vượt lên thách thức để kiến tạo cho phát triển
