Chủ Nhật, Ngày 30 tháng 11 năm 2025,
Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi chiến lược năng lượng phù hợp
Mạnh Bôn - 30/11/2025 09:16
 
Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đặt mục tiêu tăng trưởng GDP tối thiểu 10%. Tăng trưởng GDP cao, đòi hỏi nguồn điện năng rất lớn.

Theo TS. Nguyễn Thanh Hải, chuyên gia kinh tế Tổ chức Hợp tác quốc tế CHLB Đức (GIZ), nhu cầu điện năng của Việt Nam trong những năm tới tiếp tục tăng mạnh, nên cần phải có chiến lược phát triển hợp lý.

TS. Nguyễn Thanh Hải, chuyên gia kinh tế Tổ chức Hợp tác quốc tế CHLB Đức (GIZ)

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại nên nhu cầu về điện vô cùng lớn, thưa ông?

Đúng vậy. Khi Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, nhu cầu về điện sẽ tăng rất mạnh. Năm nay, an ninh năng lượng tiếp tục được bảo đảm; nguồn điện cung ứng ổn định cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân. Theo ước tính của Chính phủ, cả năm 2025, điện năng sản xuất và nhập khẩu tăng khoảng 10,65-10,73% so với năm 2024.

Kết quả này có được nhờ việc triển khai hiệu quả Điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII; bảo đảm tiến độ các dự án, công trình nguồn điện và lưới điện trọng điểm đã được phê duyệt chủ trương, bám sát kế hoạch như đường dây 500 kV Hải Phòng - Thái Bình, các dự án nhập khẩu điện từ Lào, LNG Quảng Ninh, LNG Thái Bình, LNG Hải Lăng giai đoạn I, LNG Bạc Liêu… Đặc biệt, đường dây 500 kV Quảng Bình - Hưng Yên đã hoàn thành và tuyến 500 kV Lào Cai - Vĩnh Yên được đóng điện ngay trong tháng 9, vượt tiến độ tới 8 tháng.

Bước sang năm 2026, mục tiêu tăng trưởng tối thiểu 10% mà Quốc hội vừa thông qua, cùng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo dự kiến đạt 24,96%, đồng nghĩa sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu sẽ phải tăng tối thiểu khoảng 11% so với ước thực hiện năm 2025. Đây cũng là năm đầu tiên của Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030, với mục tiêu toàn giai đoạn tăng trưởng GDP tối thiểu 10% và tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng dần qua từng năm. Vì vậy, để đạt mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, nhu cầu về điện chắc chắn sẽ vô cùng lớn.

Cụ thể, nhu cầu lớn cỡ nào, thưa ông?

Năm 2020, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 55-NQ/TW về định hướng phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 6,5-7%. Nhưng mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã được điều chỉnh lên tối thiểu 10% cho 5 năm tới và duy trì ở mức cao trong các giai đoạn sau đó, nên Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 70-NQ/TW (ngày 20/8/2025) về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời phải điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII.

So sánh các mục tiêu giữa Nghị quyết 55-NQ/TW và Nghị quyết 70-NQ/TW có thể thấy, có sự thay đổi rất lớn, như tổng công suất các nguồn điện (chủ yếu là năng lượng tái tạo) tăng 46-81,5%; tổng sản lượng điện tiêu thụ tăng 14%. Năm 2025 là thời điểm phải chuẩn bị đầy đủ cơ sở hạ tầng năng lượng để bước vào giai đoạn phát triển cao.

Theo ông, để bảo đảm đủ điện năng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sinh hoạt ngày càng tăng của người dân thì cần làm gì?

Để bảo đảm đủ năng lượng, phải triển khai hiệu quả Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, với quan điểm phát triển điện lực theo nguyên tắc tối ưu tổng thể các yếu tố về nguồn điện, truyền tải điện, phân phối điện, sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, có lộ trình phù hợp gắn với bảo vệ tài nguyên - môi trường và chuyển đổi mô hình kinh tế; bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia với chi phí thấp nhất.

Trước mắt, phải bảo đảm tiến độ hoàn thành, đưa vào vận hành các dự án nguồn điện, truyền tải điện lớn trong năm 2025; từ năm 2026 cần phát triển tối đa nguồn điện từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối...), tiếp tục gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện. Cùng với phát triển nguồn điện hạt nhân không phát thải, cần khai thác tối đa tiềm năng kinh tế - kỹ thuật của các nguồn thủy điện hiện có, đồng thời phát triển các nhà máy thủy điện tích năng để điều hòa phụ tải, dự phòng công suất và hỗ trợ tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn, cũng như hệ thống pin lưu trữ.

Chính phủ đã nhấn mạnh việc phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế; tiếp tục thực hiện hiệu quả Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thu hút và triển khai các dự án năng lượng quan trọng, cấp bách của quốc gia; bảo đảm tiến độ Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Rất mừng là Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai cơ chế, chính sách đặc biệt đầu tư Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận.

Ông tính toán thế nào về nguồn vốn đầu tư để phát triển ngành điện?

Theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, tổng vốn đầu tư vào ngành điện giai đoạn tới là 136,3 tỷ USD. Theo tính toán của tôi, khả năng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước (bao gồm vốn của các doanh nghiệp nhà nước tham gia ngành điện) chỉ khoảng 40,3 tỷ USD, chiếm 29,5%; số vốn còn thiếu lên tới 96 tỷ USD, chiếm 70,5% tổng vốn đầu tư phải huy động từ tư nhân. Riêng vốn đầu tư vào nguồn điện là 118,2 tỷ USD; phải huy động từ tư nhân tới 90,8 tỷ USD, chiếm 76,2%. Đây là thách thức tài chính vô cùng lớn đối với Việt Nam khi bình quân mỗi năm phải huy động 27,26 tỷ USD chỉ riêng cho ngành điện, trong đó khu vực nhà nước chỉ bảo đảm được khoảng 8 tỷ USD, còn lại 19,2 tỷ USD, tương đương 500.000 tỷ đồng phải huy động từ khu vực tư nhân.

Vai trò của khu vực tư nhân tham gia vào ngành điện ngày càng lớn, đặc biệt kể từ khi có Nghị quyết 70-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW, Nghị quyết 198/2025/QH15 và Nghị quyết 139/NQ-CP, cùng các chính sách hợp lý, nhất là chính sách hỗ trợ 2% lãi suất vay ngân hàng cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị (ESG).

Các nước phát triển đã làm gì để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào ngành điện, thưa ông?

Chuyển đổi từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng sạch, năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời...) là xu hướng tất yếu của thế giới. Lấy ví dụ tại CHLB Đức, giai đoạn đầu khi chuyển đổi sang năng lượng sạch, Chính phủ áp dụng chính sách bù giá điện (FIT) trong khoảng 15 năm và huy động được nguồn tài chính khổng lồ để đầu tư vào năng lượng tái tạo, hiện đại hóa lưới điện và hệ thống lưu trữ.

Từ năm 2020, Đức chuyển sang chính sách FIP (hỗ trợ giá qua đấu thầu), tức chuyển từ “bao cấp giá” sang cơ chế giá thị trường, tương tự chính sách hỗ trợ lãi suất của Việt Nam.

Nhìn lại thị trường Việt Nam cũng đang đi theo hướng này. Giai đoạn FIT bùng nổ 2019-2021 thúc đẩy tăng trưởng năng lượng tái tạo, nhưng cũng gây quá tải lưới, mất cân đối vùng và cắt giảm công suất; nhiều dự án chuyển tiếp đình trệ do thiếu cơ chế giá mới. Theo tôi được biết, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải xử lý 173 dự án năng lượng tái tạo trị giá khoảng 13 tỷ USD. Do đó, Chính phủ đang chuyển dần sang cơ chế FIP, tức hỗ trợ 2% lãi suất vay ngân hàng cho các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế của thế giới, đồng thời bảo đảm đủ điện đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, nâng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo.

Tín hiệu tích cực cho tăng trưởng kinh tế trên 8%
Một trong những điều kiện để GDP tăng trưởng trên 8% là kim ngạch xuất khẩu phải tăng ít nhất 12%. Trong 10 tháng năm nay, tốc độ tăng kim ngạch...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư