Thứ Năm, Ngày 15 tháng 01 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 15/1: Bỏ dở điều trị lao phổi, nhập viện nguy kịch vì suy hô hấp
D.Ngân - 15/01/2026 08:37
 
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận một trường hợp suy hô hấp nặng do lao phổi tiến triển trên nền phổi mạn tính bị phá hủy, để lại hồi chuông cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của việc hút thuốc lá kéo dài và không tuân thủ điều trị bệnh lao.

Bỏ dở điều trị lao phổi, nhập viện nguy kịch vì suy hô hấp

Bệnh nhân H.K.C. (73 tuổi, Hà Nội) được đưa vào Khoa Cấp cứu trong tình trạng suy hô hấp nặng, toàn trạng suy kiệt kéo dài. Theo người nhà, bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá nhiều năm, trung bình khoảng một bao mỗi ngày, đồng thời sử dụng rượu bia thường xuyên từ khi còn trẻ.

Bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở y tế.

Hơn một năm trước, người bệnh từng được chẩn đoán mắc bệnh phổi mạn tính và lao phổi tại một cơ sở y tế. Tuy nhiên, sau khi uống thuốc trong thời gian ngắn, bệnh nhân đã tự ý bỏ dở điều trị, không tuân thủ phác đồ và không tái khám theo hẹn.

Khoảng bốn ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện mệt mỏi nhiều, ăn uống kém, sau đó khó thở tăng dần kèm ho nhiều. Theo Ths.Trương Tư Thế Bảo, khi nhập viện, chỉ số SpO₂ của bệnh nhân chỉ khoảng 85% khi thở khí phòng. Người bệnh thở nhanh, thở gắng sức, co kéo cơ hô hấp rõ, da niêm mạc nhợt, thể trạng suy kiệt.

Các xét nghiệm ban đầu cho thấy bệnh nhân rơi vào tình trạng rối loạn toan chuyển hóa, lactate tăng cao, gợi ý suy tuần hoàn và nguy cơ sốc nhiễm trùng. Trước diễn biến nguy kịch, các bác sỹ đã nhanh chóng đặt nội khí quản và cho bệnh nhân thở máy.

Kết quả chẩn đoán hình ảnh ghi nhận tổn thương phổi hai bên rất nặng, kèm theo tràn dịch màng phổi phải và tràn khí màng phổi trái. Xét nghiệm đờm phát hiện trực khuẩn kháng cồn, kháng toan, cho thấy lao phổi đang hoạt động trên nền phổi đã bị phá hủy kéo dài.

Theo Ths.Trương Tư Thế Bảo, đây là hậu quả điển hình của lao phổi không được điều trị triệt để, kết hợp với việc hút thuốc lá và lạm dụng rượu bia trong nhiều năm. Các yếu tố này khiến cấu trúc phổi bị tổn thương lan tỏa, khả năng trao đổi khí suy giảm nghiêm trọng và rất khó hồi phục.

Hiện bệnh nhân đang được duy trì thở máy và hồi sức tích cực. Tình trạng tạm thời ổn định nhưng tiên lượng còn rất dè dặt do tổn thương phổi hai bên nặng nề, nền thể trạng suy kiệt và bệnh lao kéo dài không được kiểm soát.

“Lao phổi là bệnh hoàn toàn có thể điều trị khỏi nếu người bệnh tuân thủ đúng phác đồ. Việc bỏ thuốc giữa chừng không chỉ khiến bệnh nặng lên mà còn làm tăng nguy cơ kháng thuốc, gây tổn thương phổi không hồi phục và đe dọa trực tiếp tính mạng”, Ths.Trương Tư Thế Bảo nhấn mạnh.

Các bác sỹ cũng cảnh báo, với những người nghiện thuốc lá, đặc biệt là người cao tuổi hoặc đang mắc các bệnh phổi mạn tính, việc tiếp tục hút thuốc sẽ làm suy giảm miễn dịch, phá hủy cấu trúc phổi, giảm hiệu quả điều trị và khiến các bệnh lý hô hấp như lao phổi tiến triển nhanh, nặng và khó kiểm soát hơn. Cai thuốc lá không chỉ là khuyến cáo mà là yêu cầu bắt buộc trong quá trình điều trị các bệnh phổi.

Từ ca bệnh này, các bác sỹ khuyến cáo người dân tuyệt đối không chủ quan với lao phổi, căn bệnh cần được điều trị đầy đủ, đúng thời gian và theo dõi chặt chẽ.

Khi có các dấu hiệu như ho kéo dài, khó thở, mệt mỏi, sụt cân, người dân cần đi khám sớm và tuân thủ điều trị đúng chuyên khoa để tránh những hậu quả nặng nề, không thể đảo ngược.

Nhồi máu cơ tim không còn dấu hiệu điển hình

Bà Kim (50 tuổi, TP.HCM) xuất hiện nhiều cơn đau vùng ngực lan ra sau lưng trong hơn một tháng. Nghĩ đây chỉ là đau thần kinh liên sườn thông thường, bà tự uống thuốc giảm đau tại nhà.

Chỉ đến khi thăm khám tại viện bà mới bất ngờ phát hiện hệ thống mạch máu nuôi tim đã bị tổn thương nghiêm trọng, với nhiều nhánh động mạch vành hẹp nặng, có vị trí gần như tắc hoàn toàn.

Tại viện, các bác sỹ nghi ngờ bệnh lý tim mạch và chỉ định chụp cắt lớp vi tính bằng công nghệ CT hơn 100.000 lát cắt. Kết quả cho thấy nhiều nhánh động mạch vành bị hẹp từ 98-99%, dù trước đó người bệnh không có các biểu hiện điển hình như đau thắt ngực dữ dội, nặng ngực hay khó thở.

Bà Kim nhanh chóng được can thiệp mạch vành, nong và đặt stent tại các vị trí tổn thương nặng. Thủ thuật diễn ra thuận lợi, dòng chảy mạch vành được tái thông tốt, không ghi nhận biến chứng. Sau can thiệp, bệnh nhân không còn đau ngực, hồi phục nhanh và xuất viện sau vài ngày theo dõi.

BS.CKI Hồng Văn In, chuyên khoa Cấp cứu cho biết, trường hợp của bà Kim được đánh giá là may mắn, bởi nếu không được kiểm tra chuyên sâu, nguy cơ bỏ sót bệnh là rất lớn và có thể dẫn đến đột tử tim. Đáng chú ý, người bệnh chưa từng ghi nhận tiền sử bệnh tim mạch nên không có thói quen khám sức khỏe định kỳ hay tầm soát chuyên sâu.

Theo bác sỹ In, thực tế tại Việt Nam, nhiều người chỉ đi khám khi đã xuất hiện triệu chứng rõ ràng, khiến bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn.

Thống kê cho thấy, khoảng 65% bệnh nhân ung thư phổi tại Việt Nam được chẩn đoán ở giai đoạn III và IV, làm giảm đáng kể cơ hội điều trị khỏi. Trong khi đó, khoảng 50% người bị tăng huyết áp không biết mình mắc bệnh và chỉ khoảng 1/3 số bệnh nhân được điều trị, nhiều trường hợp không tuân thủ phác đồ.

Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy, các bệnh không lây nhiễm hiện cướp đi sinh mạng của khoảng 41 triệu người mỗi năm, tương đương gần 3/4 tổng số ca tử vong toàn cầu. Tại Việt Nam, nhóm bệnh này là nguyên nhân của khoảng 80% số ca tử vong, trở thành thách thức lớn đối với hệ thống y tế, dù quốc gia đã đạt nhiều tiến bộ trong chăm sóc sức khỏe.

Bệnh không lây nhiễm là các bệnh mạn tính, tiến triển âm thầm, không lây truyền, bao gồm tim mạch, ung thư, đột quỵ, bệnh hô hấp mạn tính và đái tháo đường. Đây là nhóm bệnh gây gánh nặng tử vong và tàn tật hàng đầu, nhưng phần lớn có thể phòng ngừa nếu được phát hiện sớm và điều chỉnh lối sống phù hợp.

BS.CKII Phạm Thị Thanh Tâm, chuyên khoa nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, điểm chung của các bệnh nguy hiểm như tim mạch, đột quỵ hay ung thư là tiến triển âm thầm trong nhiều năm.

Người bệnh vẫn sinh hoạt, làm việc bình thường, trong khi các biểu hiện ban đầu thường rất mờ nhạt như mệt mỏi kéo dài, giảm tập trung, rối loạn giấc ngủ, thay đổi cân nặng không rõ nguyên nhân. Những dấu hiệu này dễ bị bỏ qua hoặc được lý giải bằng áp lực công việc, tuổi tác hay trách nhiệm gia đình.

Thực tế cho thấy, không ít trường hợp chỉ tình cờ phát hiện bệnh khi kiểm tra sức khỏe vì một lý do khác, như phát hiện nhồi máu não khi đi khám vì mắt mờ, men gan tăng cao, rối loạn mỡ máu dù vóc dáng gầy và sinh hoạt tưởng chừng lành mạnh. Nhiều tổn thương tuyến giáp, tim mạch hoặc thận cũng được phát hiện khi bệnh chưa gây triệu chứng rõ ràng.

Theo bác sỹ Tâm, tâm lý sợ phát hiện bệnh, lo ngại chi phí điều trị và gánh nặng chăm sóc là rào cản khiến nhiều người trì hoãn việc khám sức khỏe.

Trong khi đó, phát hiện sớm thường giúp việc can thiệp đơn giản hơn, chi phí thấp hơn và hạn chế biến chứng về sau. Với người trẻ, sự chủ quan xuất phát từ suy nghĩ “còn trẻ thì chưa thể mắc bệnh mạn tính”; với người trung niên, mệt mỏi thường bị xem là hệ quả tất yếu của tuổi tác.

Bác sỹ Tâm nhấn mạnh, phát hiện sớm không đồng nghĩa với việc mọi ca bệnh đều cần điều trị ngay. Ở nhiều trường hợp, việc nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ giúp người bệnh điều chỉnh lối sống, chế độ ăn uống, tăng cường vận động và theo dõi định kỳ để ngăn bệnh tiến triển.

Chủ trương khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc toàn dân tối thiểu mỗi năm một lần đã được Bộ Chính trị xác định tại Nghị quyết 72-NQ/TW và cụ thể hóa bằng Nghị quyết 282/NQ-CP, giao Bộ Y tế chủ trì triển khai trên toàn quốc. Bộ Y tế khẳng định đây là chủ trương có cơ sở khoa học, ý nghĩa nhân văn, giúp phát hiện bệnh sớm, giảm tải cho hệ thống y tế và nâng cao chất lượng, tuổi thọ người dân.

Các bác sỹ khuyến cáo người dân cần đi khám sớm khi có những thay đổi dù nhỏ như mệt mỏi kéo dài, sức bền giảm, rối loạn giấc ngủ, đau âm ỉ tái diễn hoặc cảm giác cơ thể “không còn như trước”.

Việc khám sức khỏe không chỉ dành cho người đã có triệu chứng mà cần được thực hiện chủ động, thường xuyên, nhằm phát hiện sớm yếu tố nguy cơ, giảm gánh nặng điều trị và hạn chế biến chứng về lâu dài.

Co giật ngắn, phát hiện tụ máu não mạn tính nguy hiểm

Tại Khoa Khám bệnh và Điều trị ngoại trú, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sỹ vừa kịp thời phát hiện và can thiệp một trường hợp tụ máu mạn tính dưới màng cứng gây chèn ép não nặng.

Đáng chú ý, người bệnh đến khám với những biểu hiện ban đầu rất kín đáo, dễ bị bỏ sót nếu không được khai thác bệnh sử kỹ lưỡng và thăm khám thần kinh đầy đủ.

Theo ThS.BSCKII Doãn Thị Huyền, bệnh nhân P.V.D. (50 tuổi, Bắc Ninh) được người nhà đưa đến khám trong tâm lý lo lắng về khả năng mắc “sán não”.

Gia đình chủ động đề nghị bác sỹ chỉ làm xét nghiệm máu chuyên sâu, với thông tin ban đầu khá rời rạc như người bệnh từng có một cơn “lên cơn” cách đây khoảng một tháng và gần đây xuất hiện thêm hai cơn liên tiếp trong cùng một ngày.

Qua khai thác bệnh sử chi tiết, các cơn được mô tả có đặc điểm mất ý thức đột ngột, kèm co giật tay chân trong thời gian ngắn, sau cơn người bệnh không nhớ được diễn biến. Đây là những dấu hiệu điển hình của cơn động kinh toàn thể.

Gia đình cho biết, sau các cơn này, bệnh nhân từng đi khám tại một số cơ sở y tế và được gợi ý nguyên nhân có thể liên quan đến “sán não”, nên được hướng dẫn chuyển tuyến để làm xét nghiệm chuyên sâu.

Tuy nhiên, theo bác sỹ Huyền, người bệnh không có bệnh lý nền, không sốt, không có yếu tố gợi ý co giật thứ phát do rối loạn chuyển hóa hay nhiễm trùng cấp tính. Điều này đặt ra yêu cầu bắt buộc phải tìm nguyên nhân tổn thương thực thể trong não, thay vì chỉ khu trú chẩn đoán vào một nguyên nhân đơn lẻ theo suy đoán.

Bác sỹ phân tích, chỉ cần xuất hiện từ hai cơn co giật không do nguyên nhân cấp tính đã đủ tiêu chuẩn chẩn đoán động kinh theo chuẩn quốc tế, đồng thời cần tìm nguyên nhân gây ra các cơn này. Đặc biệt, động kinh khởi phát muộn ở người trưởng thành tuyệt đối không được coi là vô căn cho đến khi loại trừ các bệnh lý nội sọ nguy hiểm.

Khi tiếp tục khai thác sâu, gia đình cho biết người bệnh từng bị ngã trong lúc lên cơn co giật và có va đập đầu, dù không nhớ rõ mức độ và thời điểm chính xác, ước khoảng bốn tuần trước. Chi tiết này rất phù hợp với thời gian hình thành một khối tụ máu não mạn tính dưới màng cứng.

Trước những băn khoăn của gia đình, bác sỹ Huyền đã tư vấn ưu tiên chụp MRI sọ não. Kết quả chụp MRI cấp xác định người bệnh có khối tụ máu não dưới màng cứng mạn tính kích thước lớn vùng thái dương, gây hiệu ứng khối và đè đẩy đường giữa của não.

Đây là tình trạng đặc biệt nguy hiểm, bởi tụ máu có thể âm thầm tiến triển trong nhiều tuần với các triệu chứng kín đáo như chậm chạp, giảm trí nhớ, rối loạn ngôn ngữ, nhưng tiềm ẩn nguy cơ liệt vận động, tụt kẹt não, hôn mê và tử vong nếu không được xử trí kịp thời.

Ngay sau khi có kết quả chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân được chuyển sang chuyên khoa Phẫu thuật thần kinh sọ não để phẫu thuật cấp cứu lấy bỏ khối tụ máu, giải phóng chèn ép nhu mô não.

Đồng thời, người bệnh được chỉ định điều trị thuốc kháng động kinh do đã xuất hiện nhiều cơn co giật trước đó. Sau can thiệp, tình trạng ý thức cải thiện tốt và không ghi nhận thêm cơn co giật.

Từ trường hợp này, Ths.Doãn Thị Huyền nhấn mạnh, các cơn co giật ngắn, thoáng qua rất dễ bị nhầm với ngất hoặc bị xem nhẹ, đặc biệt khi người bệnh vẫn sinh hoạt gần như bình thường giữa các cơn. Tuy nhiên, mọi cơn co giật đều là dấu hiệu bất thường của não và cần được khám chuyên khoa thần kinh để tìm nguyên nhân.

Bác sỹ cũng cảnh báo, việc e ngại chẩn đoán hình ảnh hoặc chỉ làm xét nghiệm theo “nghe mách” có thể khiến bỏ sót những tổn thương nội sọ nguy hiểm.

Khi người bệnh có biểu hiện co giật, mất ý thức đột ngột, dù chỉ kéo dài vài chục giây, cần đi khám sớm để được đánh giá toàn diện. Đặc biệt, nếu trong cơn có ngã hoặc va đập đầu, tuyệt đối không chủ quan, bởi tụ máu não có thể xuất hiện muộn sau nhiều tuần.

Các thăm dò hình ảnh như CT hoặc MRI chính là “cánh tay nối dài” của bác sỹ, giúp phát hiện kịp thời nguyên nhân nguy hiểm và bảo vệ tính mạng người bệnh.

Quá nhiều biến chứng của bệnh lao phổi, phòng chống cách nào?
Lao phổi là bệnh có thể để lại di chứng, dẫn đến những vấn đề sức khỏe lâu dài dù việc chữa trị căn bệnh này đã có nhiều tiến bộ....
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư