Chủ Nhật, Ngày 19 tháng 04 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 19/4: Đục thủy tinh thể tiến triển nhanh ở người đái tháo đường
D.Ngân - 19/04/2026 08:52
 
Tưởng chỉ là lão thị do tuổi tác, nhiều người cao tuổi chủ quan khi thị lực suy giảm. Tuy nhiên, với người mắc bệnh nền như đái tháo đường, đục thủy tinh thể có thể tiến triển nhanh bất thường, đe dọa thị lực nếu không phát hiện và điều trị kịp thời.

Đục thủy tinh thể tiến triển nhanh ở người đái tháo đường

Ông Phú (72 tuổi, TP.HCM) nhập viện trong tình trạng mờ mắt kéo dài. Ban đầu, ông cho rằng nguyên nhân là lão thị nên chỉ đi cắt kính. Tuy nhiên, thị lực tiếp tục suy giảm, ảnh hưởng sinh hoạt hằng ngày khiến ông buộc phải đến bệnh viện thăm khám.

image_1776548788351.jpg
 Với người mắc bệnh nền như đái tháo đường, đục thủy tinh thể có thể tiến triển nhanh bất thường, đe dọa thị lực nếu không phát hiện và điều trị kịp thời.

Kết quả kiểm tra chuyên sâu cho thấy thể thủy tinh của ông đã chuyển sang màu trắng đục. Thị lực mắt phải chỉ còn 4/10, mắt trái 6/10. Người bệnh được chẩn đoán đục thủy tinh thể hai mắt giai đoạn 3 và được chỉ định phẫu thuật Phaco nhằm ngăn bệnh tiến triển nặng hơn, đồng thời tăng khả năng phục hồi thị lực.

Đáng chú ý, ông Phú có tiền sử tăng huyết áp và đái tháo đường type 2 hơn 10 năm, đang điều trị bằng thuốc uống kết hợp tiêm insulin. Các bác sỹ cho biết chính hai bệnh lý nền này là yếu tố thúc đẩy đục thủy tinh thể tiến triển nhanh hơn bình thường, khiến thị lực suy giảm rõ rệt chỉ trong vài tháng.

Trước khi phẫu thuật, bệnh nhân được thực hiện đầy đủ các xét nghiệm và thăm dò cần thiết như đo khúc xạ, đo nhãn áp, siêu âm mắt, đánh giá độ dày thủy tinh thể, tình trạng giác mạc, đồng thời kiểm soát đường huyết ổn định ở mức 6,5 mmol/L để đảm bảo an toàn can thiệp.

Phaco hiện là phương pháp điều trị đục thủy tinh thể phổ biến và hiệu quả nhất. Kỹ thuật này sử dụng sóng siêu âm để tán nhuyễn thủy tinh thể bị đục, sau đó hút ra ngoài và thay thế bằng thấu kính nội nhãn nhân tạo. Ưu điểm của phương pháp là ít xâm lấn, thời gian phẫu thuật ngắn, giúp thị lực phục hồi nhanh.

Sau hai tuần tái khám, thị lực của ông Phú đã đạt 10/10 ở cả hai mắt, tình trạng chói lóa biến mất. Tuy nhiên, các bác sỹ lưu ý người bệnh cần tiếp tục chăm sóc, bảo vệ mắt, nghỉ ngơi hợp lý và đến bệnh viện ngay khi xuất hiện dấu hiệu bất thường như giảm thị lực đột ngột, đau nhức dữ dội, nhìn thấy chấm đen hay sưng mí.

Đục thủy tinh thể, hay còn gọi là cườm khô, là tình trạng thấu kính trong mắt bị mất dần độ trong suốt do lão hóa, chấn thương hoặc bệnh lý. Khi bị tổn thương, thủy tinh thể trở nên xơ cứng, chuyển sang màu trắng đục hoặc vàng, gây suy giảm thị lực. Người bệnh có thể nhận biết sớm qua các biểu hiện như nhìn mờ, cảm giác có màn che trước mắt, thấy quầng sáng hoặc chấm đen.

Bệnh thường gặp ở người trên 60 tuổi, song với người mắc đái tháo đường, nguy cơ cao gấp 2-5 lần. Không chỉ vậy, nhóm bệnh nhân này còn dễ đối mặt với nhiều biến chứng mắt nguy hiểm khác như võng mạc đái tháo đường, phù hoàng điểm hay glôcôm là những bệnh lý có thể dẫn đến mù lòa nếu không được điều trị kịp thời.

Các chuyên gia khuyến cáo người dân nên khám mắt định kỳ mỗi 6-12 tháng, đặc biệt là người cao tuổi, người có bệnh mạn tính, từng chấn thương mắt hoặc sử dụng corticosteroid kéo dài. Việc phát hiện sớm và can thiệp đúng thời điểm không chỉ giúp bảo tồn thị lực mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trẻ béo phì đối diện nhiều nguy cơ sức khỏe

Nhiều trẻ trông cao lớn vượt bạn bè ở những năm đầu đời nhưng lại dậy thì sớm, đóng sụn tăng trưởng sớm và cuối cùng có chiều cao khiêm tốn. Các chuyên gia cảnh báo, béo phì ở trẻ em không chỉ là vấn đề cân nặng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tiềm năng phát triển chiều cao.

Không ít phụ huynh cảm thấy yên tâm khi thấy con “tròn trịa, cao nhanh hơn bạn bè”. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng, đây có thể chỉ là lợi thế tạm thời, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ khiến trẻ không đạt được chiều cao tối ưu khi trưởng thành.

Thực tế cho thấy, nhiều trẻ thừa cân, béo phì có xu hướng tăng trưởng chiều cao sớm hơn trong những năm đầu. Song, quá trình này thường không kéo dài. Khi bước vào giai đoạn dậy thì sớm, “cửa sổ vàng” để phát triển chiều cao cũng khép lại sớm hơn so với các bạn cùng trang lứa.

Nhận định này được đưa ra tại hội thảo khoa học “Cập nhật các khuyến nghị về vi chất dinh dưỡng trong tăng trưởng chiều cao ở trẻ em”, vừa diễn ra do Chi hội Dinh dưỡng Nhi khoa (Hội Dinh dưỡng Việt Nam) tổ chức.

Theo TS.Phan Bích Nga, Chủ tịch Chi hội Dinh dưỡng Nhi khoa, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng. Trong giai đoạn 2010-2020, tỷ lệ này ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 5% lên 8%. Ở nhóm từ 5 đến 18 tuổi, con số tăng hơn gấp đôi, từ 7% lên 19%, tập trung nhiều ở lứa tuổi học sinh trung học.

Điều đáng nói, bản chất của béo phì không chỉ là “thừa chất” mà là thừa năng lượng. Khi cơ thể dư thừa năng lượng, các tế bào trong cơ thể sẽ cạnh tranh để phát triển, trong đó tế bào mỡ được ưu tiên.

Hệ quả là quá trình hấp thu canxi bị ức chế, trong khi hoạt động hủy xương lại gia tăng. Hệ xương vì thế suy yếu, không đủ điều kiện để phát triển chiều cao tối ưu. Đây là một trong những nguyên nhân khiến trẻ béo phì dù cao sớm nhưng khó duy trì đà tăng trưởng.

Một hệ quả rõ rệt khác là tình trạng dậy thì sớm. Khi bước vào tuổi dậy thì, cơ thể sẽ có giai đoạn tăng trưởng nhanh, nhưng đồng thời các đầu xương cũng bắt đầu đóng lại. Nếu quá trình này diễn ra sớm, chiều cao của trẻ sẽ dừng lại sớm hơn bình thường.

“Trẻ béo phì có thể phát triển xương sớm, dậy thì sớm nhưng lại dừng phát triển chiều cao sớm”, TS.Nga nhấn mạnh. Đây cũng là lý do nhiều trẻ ban đầu cao lớn hơn bạn bè nhưng sau đó lại bị “vượt mặt” khi trưởng thành.

Không chỉ dừng ở đó, Việt Nam hiện còn đối mặt với “gánh nặng dinh dưỡng kép” ở trẻ em vừa thấp còi, vừa béo phì. Theo PGS-TS.Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, trên thế giới có hơn 150 triệu trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi, trong khi khoảng 35 triệu trẻ dưới 5 tuổi lại thừa cân, béo phì.

Tại Việt Nam, khoảng 1,8 triệu trẻ dưới 5 tuổi bị thấp còi. Ở nhóm dân tộc thiểu số, cứ 3 trẻ thì có 1 trẻ thấp còi. Ngược lại, trong nhóm 5-19 tuổi, cứ 5 trẻ thì có 1 trẻ thừa cân hoặc béo phì.

Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng chiều cao trung bình của người Việt vẫn còn khoảng cách so với khu vực và thế giới, hiện xếp thứ 153/201 quốc gia. Tình trạng thấp còi không chỉ ảnh hưởng đến chiều cao mà còn tác động đến chức năng nhận thức, hệ miễn dịch, khối cơ và làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì khi trưởng thành.

Đáng lo ngại, dù điều kiện kinh tế của nhiều gia đình đã cải thiện, tình trạng trẻ thấp còi vẫn phổ biến, với khoảng 20% trẻ em có chiều cao thấp hơn chuẩn.

Từ thực tế này, các chuyên gia nhấn mạnh, việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ cần hướng tới cân bằng năng lượng, bổ sung vi chất đầy đủ và kiểm soát cân nặng hợp lý, thay vì chỉ chú trọng “ăn nhiều cho cao”. Phát hiện sớm và điều chỉnh kịp thời tình trạng thừa cân, béo phì chính là chìa khóa để giúp trẻ phát triển chiều cao bền vững trong tương lai.

Rối loạn tiền đình trẻ hóa, dân văn phòng thành nhóm nguy cơ cao

Từng được xem là bệnh phổ biến ở người trung niên, rối loạn tiền đình đang có xu hướng trẻ hóa rõ rệt, đặc biệt ở dân văn phòng. Thói quen làm việc kéo dài trước màn hình, ít vận động và áp lực công việc được xác định là những yếu tố chính khiến tình trạng này gia tăng nhanh chóng.

Rối loạn tiền đình vốn thường gặp ở người trên 40 tuổi, nhưng thực tế hiện nay cho thấy bệnh đang “dịch chuyển” về nhóm tuổi trẻ hơn. Một trong những nguyên nhân đáng chú ý là việc người trẻ tiếp xúc quá nhiều với máy tính và các thiết bị điện tử.

Trường hợp của chị Nguyễn Thu Hà (28 tuổi, Phú Thọ) là ví dụ điển hình. Gần đây, chị thường xuyên phải đối mặt với những cơn chóng mặt kèm buồn nôn dữ dội. Là nhân viên kế toán, công việc khiến chị gần như gắn chặt với máy tính. “Cứ ngồi làm việc một lúc là tôi bị chóng mặt, buồn nôn, đặc biệt khi chuyển mùa thì tình trạng nặng hơn”, chị Hà chia sẻ.

Sau khi thăm khám tại Bệnh viện Bạch Mai, chị được chẩn đoán rối loạn tiền đình dạng chóng mặt tư thế kịch phát lành tính, còn gọi là thạch nhĩ lạc chỗ, một dạng rối loạn tiền đình ngoại biên.

Tương tự, chị Bùi Huyền Thương (29 tuổi, Hà Nội) cũng thường xuyên bị các cơn chóng mặt, hoa mắt do đặc thù công việc phải làm việc liên tục với máy tính, thậm chí kéo dài đến 2-3 giờ sáng. Mỗi lần cơn chóng mặt xuất hiện, chị gần như không thể tự đi lại, phải nằm im vì cảm giác mọi thứ xung quanh quay cuồng. Dù đã điều trị suốt 2 năm, bệnh vẫn tái phát nhiều lần.

Theo thống kê y khoa, khoảng 15-20% dân số từng trải qua rối loạn tiền đình ít nhất một lần trong đời. Đáng chú ý, tỷ lệ này đang gia tăng ở người trẻ, đặc biệt là sinh viên và nhân viên văn phòng, những người có lối sống ít vận động và thường xuyên tiếp xúc với thiết bị điện tử.

Theo Ths.Trần Thị Thúy Hằng, nguyên nhân khiến người trẻ dễ mắc bệnh xuất phát từ lối sống thiếu khoa học: làm việc với cường độ cao, ít nghỉ ngơi, áp lực kéo dài, stress, thiếu ngủ và ngồi lâu trước màn hình máy tính.

Bác sĩ Hằng cho biết, dân công sở là nhóm dễ bị rối loạn tiền đình do đặc thù làm việc trong môi trường điều hòa, ít vận động, ngồi lâu khiến vùng vai gáy bị đau mỏi, cột sống cổ dễ bị ảnh hưởng. Tình trạng này có thể gây co thắt động mạch cột sống, làm giảm lưu lượng máu lên não và dẫn đến rối loạn tiền đình.

Ngoài ra, việc làm việc liên tục mà không nghỉ ngơi còn ảnh hưởng trực tiếp đến tuần hoàn máu não, làm tăng nguy cơ xuất hiện các triệu chứng như chóng mặt, mất thăng bằng.

Về mặt cơ chế, hệ thống tiền đình đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể định vị vị trí trong không gian và duy trì thăng bằng. Khi hệ thống này bị rối loạn, người bệnh sẽ gặp các triệu chứng như chóng mặt, buồn nôn, khó định hướng không gian, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và công việc.

Đáng lưu ý, rối loạn tiền đình không chỉ gây khó chịu nhất thời mà còn tiềm ẩn nguy cơ biến chứng. Ở những người có bệnh nền như tăng huyết áp hoặc thiếu máu não, nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời, nguy cơ đột quỵ hoàn toàn có thể xảy ra.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, người trẻ có lợi thế về khả năng hồi phục nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách. Do đó, khi xuất hiện các dấu hiệu như chóng mặt, xoay tròn, mất thăng bằng, người bệnh cần chủ động đi khám sớm để được chẩn đoán và can thiệp kịp thời, tránh ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

Biến chứng nặng vì chủ quan không tiêm phòng sởi

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận và điều trị một trường hợp sởi ở người lớn với diễn biến nặng do biến chứng tiêu hóa và rối loạn điện giải.

Trường hợp này tiếp tục là lời cảnh báo về nguy cơ bệnh có thể trở nên nghiêm trọng nếu không được phòng ngừa bằng tiêm chủng.

Bệnh nhân N.T.B, 42 tuổi, trú tại Phú Thọ, chưa từng tiêm vắc xin phòng sởi, nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng rõ rệt kèm rối loạn điện giải. Theo người nhà, khoảng 10 ngày trước khi khởi phát, cháu gái sống cùng nhà mắc sởi và đã điều trị khỏi. Tuy nhiên, bệnh nhân không thực hiện các biện pháp phòng ngừa.

Bốn ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân bắt đầu sốt cao 38,5 đến 39°C nhưng cho rằng chỉ là sốt thông thường nên tự mua thuốc hạ sốt điều trị tại nhà.

Sau 3 ngày, tình trạng không cải thiện mà tiến triển nặng hơn với các biểu hiện ho khan, đau họng, mệt mỏi và nôn nhiều. Ban sởi xuất hiện từ vùng mặt rồi lan ra toàn thân, kèm theo tiêu chảy trên 10 lần mỗi ngày.

Bệnh nhân được đưa đến bệnh viện tuyến tỉnh và được chẩn đoán mắc sởi. Tuy nhiên, sau 4 ngày điều trị không cải thiện, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Tại đây, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốt cao liên tục 39 đến 40°C, ban sởi toàn thân ở ngày thứ 8 của bệnh, ho nhiều, tức ngực, khó thở với SpO2 92% khi thở khí phòng. Ngoài ra còn ghi nhận viêm và xuất huyết kết mạc hai mắt, nôn 3 đến 4 lần mỗi ngày, bụng chướng nhẹ và tiêu chảy gây mất nước. Xét nghiệm cho thấy chỉ số viêm CRP tăng cao 43,8 mg/L và dương tính với virus sởi.

Theo bác sỹ Đỗ Thị Tiền, Khoa Virus, Ký sinh trùng, đây là trường hợp sởi điển hình ở người lớn nhưng diễn biến nặng do biến chứng tiêu hóa dẫn đến rối loạn điện giải, đồng thời kèm theo biến chứng đường hô hấp. Người bệnh cần được điều trị tích cực nhằm kiểm soát nhiễm trùng và phòng ngừa bội nhiễm.

Bệnh nhân được điều trị bằng các biện pháp hạ sốt, bù nước và điện giải qua đường truyền tĩnh mạch kết hợp đường uống, sử dụng kháng sinh để kiểm soát nhiễm khuẩn đường hô hấp, đồng thời hỗ trợ tiêu hóa và dinh dưỡng. Sau 3 ngày điều trị, tình trạng cải thiện rõ rệt. Bệnh nhân đã hết sốt, tiêu chảy được kiểm soát, các triệu chứng hô hấp giảm dần, đỡ ho, đỡ khó thở, tỉnh táo và ăn uống tốt, hiện đang trong giai đoạn hồi phục.

Các bác sỹ nhận định sởi không chỉ là bệnh ở trẻ em. Người lớn chưa có miễn dịch khi mắc bệnh thường có nguy cơ diễn biến nặng hơn và dễ xuất hiện biến chứng.

Ngoài trường hợp này, bệnh viện đang điều trị thêm 2 bệnh nhân mắc sởi, trong đó có 1 người chưa được tiêm vắc xin. Thực tế này cho thấy vai trò quan trọng của tiêm chủng trong phòng bệnh.

Bác sỹ Nguyễn Nguyên Huyền, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống dịch, khuyến cáo tiêm vắc-xin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. Người lớn không rõ tiền sử tiêm chủng cần chủ động tiêm phòng.

Phụ nữ nên hoàn tất tiêm ngừa sởi ít nhất 3 tháng trước khi mang thai để bảo vệ sức khỏe cho cả mẹ và con, do vắc xin sởi là vắc xin sống giảm độc lực nên chống chỉ định với phụ nữ đang mang thai.

Trong trường hợp tiếp xúc với người mắc sởi, đặc biệt là trẻ nhỏ, cần thực hiện cách ly và theo dõi sức khỏe chặt chẽ. Khi xuất hiện các biểu hiện như sốt cao, ho, viêm kết mạc hoặc phát ban, người dân cần đến cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Người bệnh có thể chăm sóc hỗ trợ tại nhà đúng cách bằng cách uống đủ nước, bổ sung dung dịch điện giải để phòng mất nước do sốt hoặc tiêu chảy, hạ sốt theo hướng dẫn của nhân viên y tế, giữ vệ sinh mắt, mũi, họng và không tự ý sử dụng kháng sinh.

Đặc biệt, cần đến bệnh viện ngay khi xuất hiện các dấu hiệu nặng như sốt cao liên tục không hạ, khó thở, ho nhiều, đau ngực, nôn nhiều, tiêu chảy gây mất nước hoặc tình trạng mệt lả, lơ mơ để tránh nguy cơ biến chứng nghiêm trọng.

Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư