Thứ Ba, Ngày 04 tháng 08 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 4/8: Mối nguy từ vi khuẩn cơ hội và thách thức kiểm soát nhiễm khuẩn
D.Ngân - 04/08/2026 09:51
 
Không chỉ gây nhiễm khuẩn tiết niệu, vi khuẩn cơ hội Citrobacter Koseri còn có thể dẫn đến tăng kali máu, suy thận cấp và nhiều biến chứng đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.

Mối nguy từ vi khuẩn cơ hội và thách thức kiểm soát nhiễm khuẩn

Đau châm chích tay chân, đau cơ và tiểu rắt khiến người đàn ông 54 tuổi nhập viện trong tình trạng tăng kali máu nặng, suy thận cấp. Khi xét nghiệm vi sinh xác định nguyên nhân là nhiễm khuẩn tiết niệu do Citrobacter Koseri, một vi khuẩn cơ hội có thể gây biến chứng nguy hiểm và tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm chéo trong cơ sở y tế.

758395860_3527367760746886_8511741080093676678_n (1)
Vi khuẩn cơ hội Citrobacter Koseri được phát hiện qua xét nghiệm

Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC vừa điều trị thành công cho một nam bệnh nhân nhập viện cấp cứu trong tình trạng tăng kali máu nặng, suy thận cấp kèm đau châm chích ở tay chân. Qua khai thác bệnh sử và nuôi cấy vi sinh, các bác sỹ phát hiện nguyên nhân xuất phát từ nhiễm khuẩn đường tiết niệu do vi khuẩn cơ hội Citrobacter Koseri.

Đây là tác nhân thường cư trú trong đường tiêu hóa nhưng có thể gây nhiễm trùng nặng ở người lớn tuổi, người suy giảm miễn dịch hoặc có nhiều bệnh nền. Vi khuẩn cũng đặt ra thách thức đáng kể trong kiểm soát nhiễm khuẩn do có khả năng tồn tại lâu trên bề mặt và nguy cơ kháng kháng sinh.

Bốn ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân L.A.Q. (54 tuổi, Hà Nội) xuất hiện cảm giác đau châm chích ở đầu ngón tay, ngón chân và đau rát các khớp ngón tay. Nghĩ bệnh gút tái phát, người bệnh tự mua thuốc không rõ loại để điều trị tại nhà.

Sau đó, bệnh nhân bị tiêu chảy phân lỏng kéo dài ba ngày. Người bệnh có tiền sử lạm dụng rượu trong thời gian dài, mỗi ngày sử dụng khoảng 200 ml.

Hai ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện thêm các triệu chứng tiểu rắt, đau mỏi cơ toàn thân và đau tức ngực. Trước nguy cơ rối loạn nhịp tim cấp, người bệnh được đưa vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC.

Kết quả xét nghiệm lúc nhập viện ghi nhận nhiều chỉ số bất thường. Kali máu tăng lên 6,54 mmol/L, cao hơn đáng kể so với ngưỡng bình thường từ 3,5-5 mmol/L. Creatinine tăng 136 µmol/L và ure đạt 14 mmol/L, gợi ý tình trạng suy thận cấp.

Đáng chú ý, kết quả nuôi cấy nước tiểu phân lập được vi khuẩn Citrobacter koseri với mật độ trên 100.000 CFU/mL. Các bác sỹ xác định người bệnh bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu do Citrobacter koseri, biến chứng tăng kali máu nặng, suy thận cấp và theo dõi tiêu cơ vân do nhiễm trùng toàn thân.

Ngay sau khi xác định tình trạng bệnh, ê-kíp triển khai phác đồ điều trị đa chuyên khoa, tập trung xử trí cấp cứu tăng kali máu, bù dịch, cân bằng điện giải và kiểm soát huyết áp.

Người bệnh ban đầu được điều trị phối hợp Ceftriaxone và Vancomycin. Sau khi kết quả nuôi cấy xác định Citrobacter koseri còn nhạy cảm với kháng sinh và cấy máu âm tính, các bác sỹ ngừng Vancomycin nhằm hạn chế độc tính đối với thận.

Song song với điều trị, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn tiến hành khử khuẩn các bề mặt thiết yếu xung quanh khu vực bệnh nhân hai lần mỗi ngày, nhằm giảm tối đa nguy cơ vi khuẩn tồn tại và lây nhiễm chéo trong khoa điều trị.

Sau tám ngày điều trị tích cực, người bệnh hết đau cơ, hết tiểu rắt, hoạt động đại tiểu tiện trở lại bình thường. Kali máu và các chỉ số chức năng thận trở về giới hạn an toàn, kết quả nuôi cấy lại nước tiểu âm tính và bệnh nhân được xuất viện.

Citrobacter koseri là trực khuẩn Gram âm thuộc họ Enterobacteriaceae, thường cư trú trong đường tiêu hóa. Trong điều kiện sức khỏe bình thường, vi khuẩn có thể không gây bệnh. Tuy nhiên, khi sức đề kháng suy giảm hoặc cơ thể có các yếu tố thuận lợi, chúng có thể trở thành tác nhân gây nhiễm trùng cơ hội.

Những nhóm có nguy cơ cao gồm người lớn tuổi, người suy giảm miễn dịch, bệnh nhân mắc nhiều bệnh mạn tính hoặc phải điều trị kéo dài.

Ở trường hợp trên, độc tố do vi khuẩn giải phóng kết hợp với phản ứng viêm toàn thân đã làm giảm tưới máu cục bộ, gây tổn thương tiêu cơ vân nhẹ. Tình trạng này được thể hiện qua chỉ số CK tăng lên 528 U/L cùng biểu hiện đau cơ.

Khi tế bào cơ bị phá hủy, một lượng lớn kali nội bào được giải phóng vào máu. Trong bối cảnh chức năng thận suy giảm, khả năng đào thải kali bị hạn chế, khiến người bệnh rơi vào tình trạng tăng kali máu nặng.

Đây là một cấp cứu nội khoa nguy hiểm bởi kali máu tăng cao có thể gây rối loạn nhịp tim, ngừng tim và đe dọa trực tiếp tính mạng nếu không được xử trí kịp thời.

Theo các báo cáo y khoa được viện dẫn, vi khuẩn thuộc nhóm Citrobacter có thể tồn tại trên bề mặt khô trong môi trường bệnh viện từ 14 đến hơn 40 ngày. Khả năng tồn tại kéo dài làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm chéo nếu quy trình vệ sinh, khử khuẩn không được thực hiện nghiêm ngặt.

Một vấn đề khác là tình trạng đề kháng kháng sinh. Tỷ lệ các chủng Citrobacter spp. sản sinh enzym beta-lactamase phổ rộng, thường gọi là ESBL, được ghi nhận dao động từ 30% đến trên 62% trong một số báo cáo.

Enzym này làm vi khuẩn kháng nhiều kháng sinh thuộc nhóm beta-lactam, khiến việc lựa chọn thuốc điều trị trở nên khó khăn hơn, đặc biệt ở những người đã có tổn thương thận hoặc nhiều bệnh lý đi kèm.

Nguy cơ nhiễm Citrobacter được ghi nhận cao hơn ở người trên 50 tuổi, đặc biệt là nhóm trên 70 tuổi. Vì vậy, việc nhận diện sớm tác nhân bằng xét nghiệm vi sinh và sử dụng kháng sinh theo kháng sinh đồ có ý nghĩa quan trọng trong điều trị.

Từ trường hợp trên, các bác sỹ khuyến cáo người dân không nên chủ quan trước những triệu chứng tưởng như không liên quan, chẳng hạn đau châm chích tay chân, đau cơ kết hợp rối loạn tiêu hóa hoặc tiểu rắt.

Những người mắc bệnh gút, tăng huyết áp, bệnh thận hoặc có tiền sử lạm dụng rượu càng cần đến cơ sở y tế sớm để kiểm tra điện giải, chức năng thận và tìm nguyên nhân khi xuất hiện biểu hiện bất thường.

Việc tự mua thuốc điều trị gút hoặc tự sử dụng kháng sinh không rõ loại có thể làm nặng thêm tổn thương thận, gây rối loạn điện giải và che lấp triệu chứng của nhiễm trùng, khiến quá trình chẩn đoán bị chậm trễ.

Đối với các cơ sở y tế, năng lực xét nghiệm vi sinh, phát hiện sớm vi khuẩn đa kháng và thực hiện nghiêm quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn đóng vai trò quyết định trong hạn chế lây nhiễm chéo và lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp.

Ca bệnh là lời cảnh báo rằng nhiễm khuẩn tiết niệu do vi khuẩn cơ hội có thể khởi phát bằng những triệu chứng mơ hồ nhưng nhanh chóng gây rối loạn điện giải, suy thận và biến chứng tim mạch nguy hiểm. Thăm khám sớm, chẩn đoán chính xác bằng xét nghiệm vi sinh và điều trị đúng phác đồ là những yếu tố quan trọng giúp bảo vệ chức năng thận và tính mạng người bệnh.

Điều trị ổn định viêm gan B, C vẫn phát hiện ung thư gan

Từng điều trị ổn định viêm gan B và C, tải lượng virus đều dưới ngưỡng phát hiện, ông Luân (68 tuổi) cho rằng, bệnh đã khỏi nên không tái khám định kỳ. Chỉ đến khi đi khám sức khỏe tổng quát tại viện, ông mới bất ngờ phát hiện khối u gan đường kính hơn 4 cm.

Kết quả siêu âm và chụp CT có tiêm thuốc cản quang xác định người bệnh có khối u gan kích thước 4,2 cm, chưa di căn ngoài gan.

BS.CKII Hồ Sỹ Minh, chuyên khoa gan cho biết, nhiều người lầm tưởng tải lượng virus âm tính đồng nghĩa với việc không còn nguy cơ ung thư gan. Tuy nhiên, đây chỉ là thành công bước đầu của quá trình điều trị.

Theo bác sỹ Minh, viêm gan B và C thường âm thầm gây tổn thương gan trong nhiều năm trước khi được phát hiện. Trong thời gian virus hoạt động mạnh, các tế bào gan đã bị phá hủy, cấu trúc gen bị thay đổi và các cơ chế sinh ung thư đã được khởi phát.

Đặc biệt, virus viêm gan B (HBV) là virus ADN, có khả năng tích hợp trực tiếp vào bộ gen của tế bào gan. Ngay sau khi xâm nhập cơ thể, virus có thể chèn ADN vào hệ gen người, gây rối loạn nhiễm sắc thể và kích hoạt các gen sinh ung thư.

Trong khi đó, virus viêm gan C (HCV) là virus ARN nên không tích hợp vào bộ gen. Tuy nhiên, tình trạng viêm gan mạn tính kéo dài do HCV vẫn gây hoại tử tế bào gan, xơ hóa, xơ gan và làm tăng nguy cơ phát triển ung thư gan theo cơ chế gián tiếp.

"Dùng thuốc kháng virus giúp tải lượng virus xuống dưới ngưỡng phát hiện không đồng nghĩa loại bỏ hoàn toàn nguy cơ ung thư gan", bác sỹ Minh nhấn mạnh.

Theo chuyên gia, người mắc viêm gan B hoặc C, kể cả khi điều trị ổn định, vẫn cần tầm soát ung thư gan định kỳ mỗi 3-6 tháng để phát hiện tổn thương ở giai đoạn sớm, từ đó nâng cao khả năng điều trị triệt để và bảo tồn chức năng gan.

Sau hội chẩn, các bác sỹ chỉ định phẫu thuật nội soi cắt gan để loại bỏ hoàn toàn khối u. Qua bốn đường rạch nhỏ trên thành bụng, ê-kíp phát hiện gan của người bệnh chỉ xơ nhẹ và có một khối u duy nhất khoảng 4 cm nằm ở hạ phân thùy VI. Các bác sỹ sử dụng dao mổ siêu âm CUSA kết hợp dao hàn mạch Ligasure để cắt phần gan chứa khối u, giúp nhận diện rõ hệ thống mạch máu và đường mật, hạn chế chảy máu trong mổ.

Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, khối u được cắt bỏ hoàn toàn với diện cắt an toàn. Người bệnh không cần truyền máu và không gặp các biến chứng như suy gan hay rò mật.

Chỉ sau 24 giờ, ông Luân đã có thể ăn uống trở lại, tự đi lại mà không cần hỗ trợ. Các xét nghiệm chức năng gan, thận cùng siêu âm sau mổ đều ổn định và người bệnh được xuất viện sau bốn ngày.

Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 7,6 triệu người nhiễm virus viêm gan B và gần một triệu người mắc viêm gan C. Đây là hai nguyên nhân hàng đầu gây ung thư biểu mô tế bào gan. Những trường hợp đồng nhiễm cả hai loại virus có nguy cơ mắc ung thư gan cao hơn nhiều lần.

Số liệu Globocan 2024 cho thấy Việt Nam ghi nhận hơn 14.500 ca ung thư gan mới mỗi năm, với tỷ lệ tử vong lên tới khoảng 93%, thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới.

Bác sỹ Hồ Sỹ Minh khuyến cáo người dân nên chủ động tiêm vắc-xin phòng viêm gan B để ngăn ngừa virus ngay từ đầu. Với viêm gan C hiện chưa có vắc-xin, vì vậy cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa như quan hệ tình dục an toàn, không dùng chung kim tiêm và tuân thủ các hướng dẫn dự phòng lây nhiễm.

Đối với người mắc viêm gan B, viêm gan C, gan nhiễm mỡ hoặc các bệnh gan mạn tính khác, việc tái khám định kỳ vẫn rất cần thiết, ngay cả khi tải lượng virus đã được kiểm soát. Siêu âm gan kết hợp xét nghiệm dấu ấn ung thư AFP mỗi 3-6 tháng giúp phát hiện sớm ung thư gan, nâng cao hiệu quả điều trị và kéo dài cơ hội sống cho người bệnh.

Viêm amidan tái phát nhiều lần, người đàn ông suýt tắc đường thở vì amidan phì đại

Nghĩ chỉ là viêm họng thông thường, anh Quang (36 tuổi, Hà Nội) nhiều tháng liên tục tự mua kháng sinh điều trị khi xuất hiện đau họng, nuốt vướng. Dù triệu chứng giảm sau mỗi đợt dùng thuốc, tình trạng nhanh chóng tái phát, khiến việc ăn uống, ngủ nghỉ ngày càng khó khăn, cơ thể mệt mỏi kéo dài.

Khi đến viện thăm khám, kết quả nội soi tai mũi họng cho thấy hai amidan quá phát, niêm mạc họng viêm đỏ và nhiều dịch đọng vùng mũi họng.

ThS.BSNT Trần Thị Hoa, chuyên khoa tai mũi họng khi thăm khám cho bệnh nhân cho biết, người bệnh bị viêm amidan cấp trên nền amidan quá phát kèm viêm hốc mạn tính. Ở giai đoạn này, điều trị nội khoa không còn mang lại hiệu quả lâu dài.

Theo bác sỹ Hoa, việc tiếp tục lạm dụng kháng sinh chỉ giúp cải thiện triệu chứng tạm thời, trong khi ổ viêm vẫn tồn tại. Điều này không chỉ làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh mà còn có thể gây rối loạn hệ vi sinh đường ruột, ảnh hưởng chức năng gan, thận và khiến các đợt nhiễm khuẩn sau này khó điều trị hơn. Sau khi đánh giá toàn diện, các bác sỹ quyết định phẫu thuật cắt amidan.

Trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp ghi nhận hai amidan của người bệnh quá phát độ III-IV, bên trái lớn hơn bên phải. Theo phân độ chuyên môn, amidan độ III chiếm từ 50-75% khẩu kính eo họng, còn độ IV chiếm trên 75%, khiến lòng họng bị thu hẹp đáng kể.

Bác sỹ Hoa cho biết, khi amidan phát triển quá mức, đường thở và đường ăn uống đều bị chèn ép, làm tăng nguy cơ ngưng thở khi ngủ. Nếu kéo dài, tình trạng thiếu oxy mạn tính có thể ảnh hưởng chất lượng giấc ngủ, làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch và đột quỵ.

Không chỉ gây hẹp đường thở, bề mặt hai amidan còn chứa nhiều bã đậu, tăng sinh mạch máu và dễ chảy máu. Đặc biệt, bên trong nhu mô xuất hiện nhiều ổ vi áp xe hình thành sau thời gian dài viêm nhiễm.

Theo các bác sỹ, những ổ vi áp xe này chứa vi khuẩn, bạch cầu và mô hoại tử, lại được bao bọc bởi mô xơ nên kháng sinh rất khó thấm tới nồng độ đủ để tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn. Vì vậy, thuốc chỉ có tác dụng giảm viêm trong thời gian ngắn, còn ổ nhiễm khuẩn vẫn tồn tại và tiếp tục bùng phát sau khi ngừng điều trị.

Nếu không được xử trí triệt để, các ổ vi áp xe có thể lan rộng thành áp xe quanh amidan, áp xe cổ sâu hoặc xâm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, đe dọa tính mạng.

Để loại bỏ hoàn toàn ổ viêm, ê-kíp đã cắt toàn bộ hai amidan bằng dao Coblator. Công nghệ này sử dụng năng lượng sóng radio tạo trường plasma ở nhiệt độ thấp để bóc tách mô viêm kết hợp cầm máu, giúp giảm tổn thương mô lành, hạn chế đau sau mổ và rút ngắn thời gian hồi phục.

Người bệnh được xuất viện sau 24 giờ. Sau tám ngày tái khám, các triệu chứng đau họng, ho, sốt và ngạt mũi đã biến mất hoàn toàn, vết mổ liền tốt và sức khỏe hồi phục thuận lợi.

Theo ThS.BSNT Trần Thị Hoa, amidan là một phần của hệ miễn dịch, có chức năng bảo vệ cơ thể trước các tác nhân gây bệnh xâm nhập qua đường hô hấp và tiêu hóa. Tuy nhiên, khi viêm tái diễn nhiều lần, amidan sẽ mất dần chức năng bảo vệ, trở thành ổ nhiễm khuẩn mạn tính và làm tăng nguy cơ biến chứng.

Bác sỹ khuyến cáo người dân không nên chủ quan khi xuất hiện các triệu chứng như đau họng kéo dài, nuốt vướng, hôi miệng dai dẳng hoặc viêm amidan tái phát nhiều lần trong năm. Việc tự ý sử dụng kháng sinh có thể làm giảm triệu chứng nhưng không loại bỏ được ổ viêm, đồng thời góp phần làm gia tăng tình trạng kháng kháng sinh.

Người bệnh nên đến các cơ sở y tế có chuyên khoa Tai Mũi Họng để được nội soi đánh giá mức độ tổn thương. Khi amidan quá phát độ III-IV, gây ảnh hưởng đến hô hấp, ăn uống, giấc ngủ hoặc viêm tái diễn nhiều lần, phẫu thuật cắt amidan là giải pháp hiệu quả giúp loại bỏ ổ nhiễm khuẩn mạn tính, phòng ngừa biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Tin mới về y tế ngày 27/12: Kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám, chữa bệnh; Cảnh báo tai nạn do pháo nổ tự chế
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vừa tổ chức Hội thảo khoa học “Cập nhật về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư