Thứ Sáu, Ngày 06 tháng 02 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 6/2: Nhiễm vi khuẩn kháng thuốc sau khi mắc thủy đậu
D.Ngân - 06/02/2026 10:27
 
Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm thường gặp ở trẻ em và cả người lớn, với biểu hiện đặc trưng là sốt, mệt mỏi, kèm phát ban dạng mụn nước gây ngứa.

Nhiễm vi khuẩn kháng thuốc sau thủy đậu

Nhiều người cho rằng thủy đậu là bệnh lành tính, chỉ cần chăm sóc tại nhà rồi tự khỏi. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số trường hợp có thể gặp biến chứng nặng, trong đó đáng lo ngại là nhiễm trùng da do vi khuẩn và đặc biệt là nhiễm vi khuẩn kháng thuốc, khiến quá trình điều trị phức tạp hơn rất nhiều.

Bệnh nhân thủy đậu đang điều trị tại cơ sở y tế.

Các bác sỹ cho biết, thủy đậu tạo ra hàng loạt tổn thương trên da. Khi người bệnh gãi nhiều, làm vỡ mụn nước hoặc chăm sóc không đúng cách, vi khuẩn có thể xâm nhập qua vùng da bị tổn thương, gây viêm nhiễm.

Ban đầu, nhiễm trùng thường biểu hiện bằng vùng da sưng đỏ, đau, có mủ, mụn nước đục, đóng mài dày, thậm chí lan rộng thành từng mảng. Một số trường hợp có thể kèm sốt kéo dài, mệt lả, đau nhức toàn thân. Nếu vi khuẩn tấn công sâu, người bệnh có nguy cơ bị viêm mô tế bào, áp xe, nhiễm trùng huyết và tổn thương nhiều cơ quan.

Điều đáng lo là trong thời gian gần đây, nhiều ca nhiễm trùng sau thủy đậu được ghi nhận có liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc. Đây là tình trạng vi khuẩn không còn đáp ứng với các loại kháng sinh thông thường, buộc bác sỹ phải sử dụng kháng sinh thế hệ cao hơn, điều trị kéo dài và theo dõi sát.

Khi vi khuẩn đã kháng thuốc, chỉ một vết nhiễm trùng da tưởng như nhỏ cũng có thể trở thành ổ viêm nặng, lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai hoặc người có bệnh nền.

Theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân khiến nhiễm trùng sau thủy đậu dễ chuyển nặng là tâm lý chủ quan. Nhiều người tự điều trị tại nhà bằng các loại thuốc bôi không rõ nguồn gốc, tự mua kháng sinh uống khi chưa có chỉ định, hoặc dùng thuốc không đủ liều, ngắt quãng.

Việc sử dụng kháng sinh sai cách không chỉ không kiểm soát được nhiễm trùng mà còn tạo điều kiện cho vi khuẩn kháng thuốc phát triển mạnh hơn. Bên cạnh đó, thói quen đắp lá, bôi các loại dung dịch dân gian lên vùng tổn thương da cũng có thể khiến vết thương bẩn hơn, tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Các bác sỹ nhấn mạnh, khi mắc thủy đậu, nguyên tắc quan trọng nhất là chăm sóc da đúng cách và hạn chế tối đa việc làm vỡ mụn nước.

Người bệnh cần giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ, tắm bằng nước sạch, lau khô nhẹ nhàng, mặc quần áo rộng thoáng, cắt móng tay ngắn để tránh gãi gây trầy xước. Đồng thời, người bệnh không nên tự ý bôi thuốc có chứa corticoid hoặc tự dùng kháng sinh khi chưa được thăm khám.

Nếu có biểu hiện bất thường như vùng tổn thương sưng nóng đỏ đau, có mủ, lan nhanh, sốt cao kéo dài, khó thở, lơ mơ hoặc mệt lả, cần đến cơ sở y tế ngay để được đánh giá và điều trị kịp thời.

Với những trường hợp đã có dấu hiệu nhiễm trùng, bác sỹ sẽ dựa trên tình trạng lâm sàng để chỉ định điều trị phù hợp. Một số trường hợp cần làm xét nghiệm, cấy mủ hoặc cấy dịch để xác định tác nhân và mức độ kháng thuốc, từ đó lựa chọn kháng sinh đúng. Việc điều trị đúng phác đồ có ý nghĩa quan trọng, giúp kiểm soát ổ nhiễm trùng, hạn chế lan rộng và giảm nguy cơ để lại sẹo xấu.

Bên cạnh việc chăm sóc và điều trị đúng, phòng bệnh vẫn là giải pháp căn cơ. Các chuyên gia khuyến cáo, tiêm vắc-xin thủy đậu là biện pháp hiệu quả giúp giảm nguy cơ mắc bệnh và giảm nguy cơ biến chứng nặng.

Với người chưa từng mắc thủy đậu hoặc chưa tiêm vắc-xin, đặc biệt là trẻ em và người lớn có nguy cơ cao, việc chủ động tiêm phòng giúp bảo vệ bản thân và giảm nguy cơ lây lan trong cộng đồng.

Thủy đậu không chỉ là bệnh “nổi mụn rồi tự khỏi” như nhiều người vẫn nghĩ. Khi biến chứng nhiễm trùng da xảy ra, đặc biệt trong bối cảnh vi khuẩn kháng thuốc gia tăng, hậu quả có thể nghiêm trọng hơn rất nhiều. Điều quan trọng là người bệnh không chủ quan, không tự ý dùng thuốc, và cần đi khám ngay khi có dấu hiệu nhiễm trùng để tránh rơi vào vòng xoáy điều trị kéo dài, tốn kém và nguy hiểm.

Dấu hiệu cảnh báo người dân mắc nhồi máu thận

Một ca nhồi máu thận hiếm gặp vừa được cấp cứu kịp thời tại một cơ sở cho thấy huyết khối lấp đầy mạch máu thận có thể khiến người bệnh rơi vào tình trạng nguy kịch chỉ trong thời gian ngắn, dù trước đó hoàn toàn khỏe mạnh.

Người bệnh là anh Loan, 53 tuổi, không có tiền sử tăng huyết áp hay đái tháo đường, không hút thuốc lá và duy trì lối sống tương đối lành mạnh.

Trong lúc chơi tennis, anh bất ngờ xuất hiện cơn đau dữ dội vùng hông lưng phải, vã mồ hôi và khó di chuyển. Do không có dấu hiệu chấn thương, người bệnh ban đầu chủ quan nghĩ chỉ là đau cơ thông thường. Tuy nhiên, mức độ đau tăng nhanh khiến gia đình phải đưa anh đến bệnh viện cấp cứu.

Tại đây, các bác sỹ tiến hành thăm khám lâm sàng, kết hợp chỉ định chẩn đoán hình ảnh. Kết quả cho thấy động mạch thận phải bị tắc nghẽn hoàn toàn do huyết khối, khiến thận rơi vào tình trạng thiếu máu cấp.

Đây là tình huống đặc biệt nguy hiểm bởi thận là cơ quan cần được tưới máu liên tục để duy trì chức năng lọc. Khi dòng máu bị chặn, mô thận có thể hoại tử nhanh, dẫn đến suy thận cấp, thậm chí mất chức năng thận vĩnh viễn.

Theo các bác sỹ, nhồi máu thận là bệnh lý không phổ biến và rất dễ bị bỏ sót do triệu chứng không đặc hiệu. Người bệnh thường đau hông lưng dữ dội, có thể kèm buồn nôn, nôn, sốt nhẹ, tiểu ra máu hoặc tăng huyết áp.

Những biểu hiện này dễ nhầm lẫn với sỏi thận, viêm đường tiết niệu, đau cơ xương khớp, rối loạn tiêu hóa hoặc đau lưng thông thường. Chính vì vậy, nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi tổn thương thận đã nặng.

Nguyên nhân hình thành huyết khối gây tắc mạch thận có thể liên quan đến các bệnh lý tim mạch, rối loạn nhịp tim như rung nhĩ, hoặc do xơ vữa mạch máu, bóc tách động mạch, rối loạn đông máu. Một số trường hợp rất khó xác định nguyên nhân rõ ràng, dù người bệnh không có bệnh nền điển hình.

Với trường hợp anh Loan, sau khi xác định chẩn đoán, các bác sỹ nhanh chóng điều trị bằng thuốc chống đông và các biện pháp hỗ trợ nhằm giảm đau, ổn định huyết động, bảo tồn chức năng thận và ngăn biến chứng. Người bệnh đáp ứng tốt, triệu chứng cải thiện rõ rệt, chức năng thận được giữ vững. Sau vài ngày điều trị, anh hồi phục ổn định và được xuất viện.

Từ ca bệnh này, các bác sỹ khuyến cáo người dân không nên chủ quan với các cơn đau hông lưng xuất hiện đột ngột, đặc biệt khi đau dữ dội, lan rộng hoặc kèm theo các dấu hiệu bất thường như buồn nôn, tiểu ra máu, sốt nhẹ, mệt lả. Đây có thể là dấu hiệu cảnh báo các tình trạng nguy hiểm liên quan đến mạch máu thận, trong đó nhồi máu thận là một cấp cứu cần được chẩn đoán sớm để bảo tồn cơ quan.

Ngoài ra, người có yếu tố nguy cơ như bệnh tim mạch, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, rối loạn đông máu hoặc từng có tiền sử huyết khối cần kiểm tra sức khỏe định kỳ và tuân thủ điều trị, bởi chỉ một cục huyết khối nhỏ cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng nếu trôi đến thận, não hoặc tim.

Không chủ quan khi mắc sỏi niệu

Một người đàn ông chịu đựng tình trạng sỏi niệu kéo dài suốt 10 năm, đến khi xuất hiện nhiễm khuẩn đường tiết niệu nặng mới đi khám.

Trường hợp này tiếp tục gióng lên cảnh báo về thói quen chủ quan với các dấu hiệu tiểu buốt, tiểu rắt, đau hông lưng, bởi sỏi niệu không chỉ gây đau mà còn có thể trở thành “ổ vi khuẩn” âm thầm phá hủy hệ tiết niệu, thậm chí đe dọa chức năng thận.

Theo thông tin từ cơ sở điều trị, bệnh nhân là nam giới trung niên, có tiền sử sỏi niệu nhiều năm nhưng không điều trị triệt để. Thời gian gần đây, người bệnh xuất hiện tình trạng tiểu khó, tiểu buốt, tiểu rắt kèm đau vùng hông lưng kéo dài.

Đáng chú ý, các triệu chứng không chỉ gây khó chịu mà còn tiến triển theo hướng nặng dần, khiến người bệnh mệt mỏi, suy giảm thể trạng. Khi vào viện, bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên nền sỏi niệu tồn tại lâu năm.

Các bác sỹ cho biết, sỏi niệu kéo dài là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái đi tái lại. Viên sỏi gây cản trở dòng chảy của nước tiểu, tạo tình trạng ứ đọng, làm tăng nguy cơ vi khuẩn phát triển.

Nguy hiểm hơn, sỏi còn có thể làm tổn thương niêm mạc đường tiết niệu, khiến vi khuẩn dễ xâm nhập sâu, gây viêm nhiễm lan rộng. Nếu không kiểm soát kịp thời, nhiễm khuẩn có thể tiến triển thành viêm thận bể thận, áp xe thận, nhiễm trùng huyết và suy thận.

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân được xử trí kiểm soát nhiễm khuẩn trước, sau đó các bác sĩ đánh giá toàn diện vị trí và mức độ sỏi để lựa chọn phương án can thiệp phù hợp.

Đây là điểm mấu chốt trong điều trị sỏi niệu có biến chứng nhiễm khuẩn, bởi nếu chỉ dùng thuốc kháng sinh mà không loại bỏ nguyên nhân gây tắc nghẽn, tình trạng viêm nhiễm rất dễ tái phát, kéo dài dai dẳng và làm tổn thương thận theo thời gian.

Từ trường hợp này, các chuyên gia cảnh báo nhiều người có tâm lý “chịu được thì chịu”, đặc biệt khi cơn đau sỏi niệu xuất hiện từng đợt rồi tự giảm. Thói quen này khiến sỏi âm thầm lớn dần, gây viêm nhiễm mạn tính và tạo ra các biến chứng nặng nề hơn.

Trong khi đó, y học hiện đại hiện có nhiều phương pháp điều trị sỏi ít xâm lấn như tán sỏi, nội soi lấy sỏi hoặc các kỹ thuật can thiệp phù hợp theo từng vị trí sỏi, giúp người bệnh giảm đau, phục hồi nhanh và hạn chế nguy cơ tổn thương thận.

Bác sỹ khuyến cáo, người dân không nên chủ quan khi có các dấu hiệu bất thường như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu khó, tiểu ra máu, đau hông lưng, sốt, ớn lạnh hoặc mệt mỏi không rõ nguyên nhân. Đây có thể là biểu hiện của nhiễm khuẩn đường tiết niệu, sỏi niệu hoặc các bệnh lý tiết niệu khác.

Người dân khi thăm khám sớm giúp phát hiện đúng nguyên nhân, điều trị kịp thời, tránh tình trạng kéo dài nhiều năm dẫn đến biến chứng, ảnh hưởng sức khỏe người dân.

Tiêm phòng thủy đậu để tránh biến chứng nguy hiểm sức khỏe
Nam bệnh nhân 30 tuổi mắc thủy đậu nhập viện trong tình trạng nguy kịch, dù được cứu chữa tích cực nhưng gặp nhiều biến chứng nặng nề.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư