-
Chủ tịch Đà Nẵng: Xây dựng Khu thương mại tự do trở thành hình mẫu phát triển mới
-
Thủ tướng: Trong năm nay phải xử lý xong vướng mắc dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng -
Đà Nẵng kích hoạt 3 dự án chiến lược tại Khu Thương mại tự do
-
Chốt thứ tự ưu tiên các đoạn tuyến cao tốc Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu -
Nghị quyết số 10-NQ/TW: Lực đẩy mới cho kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam -
TP.HCM ra tối hậu thư giải phóng mặt bằng 4 dự án trọng điểm
| Ảnh minh họa |
Độc giả Nguyễn Văn Tuấn (TP. Hà Nội) đặt câu hỏi như sau: Khoản 1, 2 Điều 30 Thông tư số 15/2019/TT-BYT (có hiệu lực ngày 1/10/2019) về bảo đảm dự thầu, nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất khi lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc quy định như sau:
"1. Thủ trưởng cơ sở y tế (hoặc bên mời thầu) phải quy định giá trị bảo đảm dự thầu bằng số tiền cụ thể trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu theo nguyên tắc sau đây:
a) Giá trị bảo đảm dự thầu của gói thầu tương đương từ 1% đến 3% giá gói thầu, đối với gói thầu quy mô nhỏ giá trị bảo đảm dự thầu từ 1% đến 1,5% giá gói thầu.
b) Trường hợp gói thầu được chia thành nhiều phần thì giá trị bảo đảm dự thầu của từng phần được thể hiện bằng giá trị cụ thể tương đương từ 1% đến 3% giá của phần đó trong giá gói thầu, đối với gói thầu quy mô nhỏ giá trị bảo đảm dự thầu từ 1% đến 1,5% giá của phần đó trong giá gói thầu.
2. Nhà thầu có thể tham gia một hoặc một số hoặc toàn bộ các phần của gói thầu. Trường hợp tham gia một số phần của gói thầu thì giá trị bảo đảm dự thầu mà nhà thầu phải bảo đảm bằng tổng giá trị bảo đảm dự thầu của các phần mà nhà thầu đó tham dự”.
Chủ đầu tư mời thầu thuốc gồm tổng gói thầu 1.155 thuốc (tương đương 1.155 phần), trong hồ sơ mời thầu ghi rõ bảo lãnh của từng phần riêng biệt. Công ty ông Tuấn tham gia 28 thuốc (tương đương 28 phần), bảo lãnh dự thầu từng phần.
Công ty tôi có 11 mặt hàng xếp hạng 1 được chủ đầu tư mời đến thương thảo trước khi ra quyết định trúng thầu, tuy nhiên công ty tôi xin rút 9 mặt hàng do không đủ năng lực cung ứng.
Xin hỏi, công ty tôi mất bảo lãnh của 9 mặt hàng rút khỏi thương thảo hay mất toàn bộ bảo lãnh dự thầu?
Điểm d Khoản 8 Điều 11 Luật Đấu thầu quy định một trong những trường hợp không được hoàn trả bảo lãnh dự thầu là nhà thầu không tiến hành hoặc từ chối tiến hành hoàn thiện hợp đồng trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo trúng thầu của bên mời thầu hoặc đã hoàn thiện hợp đồng nhưng từ chối ký hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng.
Đối với vấn đề nêu của ông Tuấn, hoạt động đấu thầu được thực hiện theo quy định nêu trên.
Theo đó, trường hợp nhà thầu tham dự gói thầu chia phần (tham dự nhiều phần) và thực hiện bảo lãnh dự thầu theo từng phần thì đối với những phần mà nhà thầu từ chối thực hiện (xin rút trong quá trình thương thảo) sẽ không được hoàn trả bảo đảm dự thầu tương ứng mà không bị tịch thu bảo lãnh của tất cả các phần.
-
Nghị quyết số 10-NQ/TW: Lực đẩy mới cho kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam -
TP.HCM ra tối hậu thư giải phóng mặt bằng 4 dự án trọng điểm -
Dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng tại TP.HCM: Nhà thầu tiếp tục kêu vướng thủ tục -
Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra công điện thúc tiến độ GPMB cao tốc Dầu Giây -Tân Phú -
Rà soát đồ án điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị -
Quảng Trị tìm giải pháp giải quyết khó khăn cho 17 dự án năng lượng -
Giao tỉnh Quảng Ninh thực hiện Dự án cải tạo cầu Đá Bạc
-
FUTA Land tổ chức chương trình tri ân đặc biệt dành cho khách hàng -
SeABank thông báo mời thầu -
Bất động sản khoáng nóng hút dòng vốn kiều bào về phía Đông Hà Nội -
LG Clinic dẫn đầu xu hướng trẻ hóa công nghệ cao cùng Ultherapy PRIME thế hệ mới -
Dự án bảo tàng Coca-Cola nhận giải vàng tại Giải thưởng Vmark 2026 -
Chi cục Hải quan khu vực VIII ký kết thỏa thuận phối hợp công tác với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
