Thứ Tư, Ngày 05 tháng 08 năm 2026,
Cảnh báo dư thừa công suất ngành cọc bê tông ly tâm
Nhật Hạ - 05/08/2026 16:18
 
Làn sóng đầu tư vào cọc bê tông ly tâm đang khiến thị trường đứng trước nguy cơ dư thừa công suất, doanh nghiệp đứng trước rủi ro chôn vốn, nợ xấu và lãng phí nguồn lực.

Bức tranh tăng trưởng “nóng”

Chỉ trong bảy tháng đầu năm 2026, thị trường vật liệu xây dựng phía Bắc ghi nhận làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực sản xuất cọc bê tông ly tâm và cống bê tông cốt thép. Hàng loạt nhà máy mới hoàn thành, đi vào hoạt động hoặc mở rộng dây chuyền từ Hà Tĩnh trở ra, tạo nên một bức tranh tăng trưởng nóng khiến nhiều chuyên gia lo ngại về nguy cơ dư thừa công suất.

Những con số hiện có cho thấy dấu hiệu mất cân đối giữa năng lực sản xuất và khả năng hấp thụ của thị trường đã xuất hiện khá rõ. Chỉ tính riêng từ tháng 1 đến tháng 7/2026, khu vực miền Bắc đã có ít nhất 6 nhà máy sản xuất cọc ly tâm, ống cống bê tông hoàn thành đầu tư hoặc mở rộng quy mô.

Làn sóng đầu tư mở rộng công suất đang khiến ngành sản xuất cọc bê tông ly tâm đối mặt nguy cơ dư thừa nguồn cung nếu tốc độ tăng năng lực sản xuất vượt khả năng hấp thụ của thị trường. 


Nếu tính từ Hà Tĩnh trở ra phía Bắc, toàn khu vực hiện có khoảng 25 nhà máy lớn, nhỏ sản xuất cọc ly tâm và cống bê tông. Điều đáng chú ý là nhiều doanh nghiệp lớn đều đã sở hữu từ 2 đến 3 dây chuyền công suất lớn. Quy mô sản xuất vì thế tăng lên rất nhanh, cả về số lượng nhà máy lẫn năng lực sản xuất trong từng doanh nghiệp.

Theo tính toán, với công suất bình quân khoảng 6.000 đến 7.000 mét dài cọc mỗi ngày cho một nhà máy, tổng năng lực cung ứng của toàn khu vực phía Bắc hiện đạt khoảng 150.000 mét dài cọc mỗi ngày, tương đương khoảng 45 triệu mét dài cọc mỗi năm.

Đây là quy mô công suất rất lớn trong bối cảnh nhu cầu thị trường vẫn phụ thuộc đáng kể vào tiến độ triển khai các dự án hạ tầng và bất động sản. Đáng lưu ý, ngay từ năm 2022, Hiệp hội Doanh nghiệp Cọc Việt Nam đã cảnh báo năng lực sản xuất cọc bê tông dự ứng lực của cả nước đạt khoảng 60-75 triệu mét dài mỗi năm và đã vượt nhu cầu ngay cả trong giai đoạn thị trường xây dựng sôi động nhất. Trong bối cảnh năm 2026, riêng khu vực phía Bắc đã có năng lực khoảng 45 triệu mét dài cọc mỗi năm và vẫn tiếp tục mở rộng, áp lực dư cung được dự báo sẽ còn lớn hơn.

Đáng lưu ý hơn, làn sóng đầu tư vẫn chưa dừng lại. Trong quý III và quý IV/2026, nhiều dự án nhà máy mới tiếp tục được dự kiến triển khai tại một số địa phương. Ở các phân khúc chuyên biệt như vỏ hầm ngầm hay cừ ván bê tông cũng đã có khoảng chục doanh nghiệp đăng ký năng lực sản xuất.

Theo giới chuyên gia, một phần đáng kể động lực của làn sóng đầu tư hiện nay đến từ tâm lý sợ bỏ lỡ cơ hội hơn là xuất phát từ những tính toán đầy đủ về quan hệ cung cầu của thị trường.

Trong bối cảnh đó, bức tranh tăng trưởng về quy mô sản xuất lại đặt ra dấu hỏi lớn về hiệu quả đầu tư trong tương lai. Khi năng lực cung ứng tiếp tục tăng nhanh hơn nhu cầu thực tế, áp lực cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt.

Bài học từ những ngành từng dư cung 

Theo nhiều chuyên gia, những diễn biến của ngành cọc bê tông ly tâm hiện nay gợi nhớ tới các bài học từng xảy ra ở ngành điện mặt trời và xi măng.

Ở lĩnh vực điện mặt trời, việc phát triển quá nhanh, vượt quy hoạch đã dẫn tới tình trạng dư nguồn phát, nhiều dự án bị cắt giảm công suất. Trong khi doanh thu không đạt kỳ vọng, các khoản vay đầu tư vẫn phải trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi, khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào khó khăn tài chính.

Ngành xi măng cũng từng trải qua giai đoạn tương tự khi công suất sản xuất vượt xa nhu cầu tiêu thụ trong nước. Để duy trì hoạt động, nhiều doanh nghiệp buộc phải xuất khẩu với giá thấp, chấp nhận thua lỗ kéo dài. Không ít dây chuyền hiện đại rơi vào tình trạng ngừng hoạt động, trong khi áp lực nợ vay ngày càng lớn.

Theo giới chuyên gia, ngành sản xuất cọc bê tông ly tâm hiện đang đứng trước nguy cơ tương tự. Khi tổng năng lực sản xuất khoảng 45 triệu mét dài cọc mỗi năm vượt xa tốc độ giải ngân và quy mô thực tế của các dự án hạ tầng, bất động sản, nguy cơ thị trường rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa hoàn toàn có thể xảy ra.

Đó không còn là một kịch bản mang tính giả định mà đã có thể nhìn thấy thông qua những dữ liệu về cung và cầu hiện nay.

Hệ lụy đầu tiên được cảnh báo là nguy cơ chôn vốn. Hàng nghìn tỷ đồng vốn tự có cùng vốn vay đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị, dây chuyền sản xuất có thể rơi vào tình trạng khai thác dưới công suất hoặc phải dừng hoạt động.

Tiếp theo là rủi ro khi doanh nghiệp suy giảm dòng tiền, mất khả năng thanh toán nợ gốc và lãi vay, làm gia tăng nguy cơ hình thành nợ xấu.

Ở quy mô lớn hơn, việc nguồn vốn, quỹ đất và các tài nguyên như cát, đá, xi măng tiếp tục được đổ vào những năng lực sản xuất thiếu đầu ra còn tạo ra sự lãng phí nguồn lực xã hội.

Ngay khi công suất vượt nhu cầu, cuộc cạnh tranh về giá cũng bắt đầu diễn ra quyết liệt hơn. Để giành hợp đồng, nhiều nhà máy buộc phải giảm giá bán từ 1 đến 2% so với đối thủ, chấp nhận thu hẹp biên lợi nhuận.

Theo đánh giá của giới chuyên gia, đây là vòng xoáy rất khó thoát ra khi dư thừa công suất sẽ kéo theo cạnh tranh bằng giá, làm lợi nhuận ngày càng bị bào mòn, cuối cùng có thể dẫn tới thua lỗ và gia tăng nợ xấu.

Trong khi đó, các yêu cầu kỹ thuật trên thị trường lại ngày càng khắt khe hơn. Chủ đầu tư và nhà thầu hiện tăng cường kiểm soát chất lượng, sẵn sàng từ chối những sản phẩm không đáp ứng yêu cầu về ngoại quan hoặc xuất hiện vữa lòng cọc.

Điều này khiến những doanh nghiệp đầu tư thiếu bài bản hoặc sử dụng công nghệ lạc hậu rơi vào thế bất lợi. Họ vừa gặp khó trong cạnh tranh về giá, vừa đối mặt nguy cơ bị loại ngay từ khâu nghiệm thu chất lượng.

Theo dự báo của giới chuyên gia, thị trường cuối năm 2026 và các năm tiếp theo sẽ tiếp tục cạnh tranh rất quyết liệt. Đây cũng là thời điểm các doanh nghiệp và nhà đầu tư cần cân nhắc kỹ trước khi quyết định xây dựng thêm các nhà máy sản xuất cọc bê tông ly tâm hoặc cống bê tông.

Trong bối cảnh đó, việc rà soát lại các dự án nhà máy cọc bê tông đúc sẵn đang chuẩn bị triển khai, đồng thời nghiên cứu chuyển đổi sang các loại vật liệu xanh, hiệu quả hơn được nhiều chuyên gia xem là hướng đi cần được cân nhắc. Đây được đánh giá là giải pháp góp phần bảo toàn nguồn vốn của doanh nghiệp, hạn chế rủi ro và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực phát triển của nền kinh tế.

Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư