Thứ Năm, Ngày 08 tháng 01 năm 2026,
Đầu tư cho nhân lực chất lượng cao là đầu tư cho tương lai
Dương Ngân - 07/01/2026 08:20
 
Trong kỷ nguyên số, khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo đang định hình lại mọi lĩnh vực của đời sống, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia.

Với Việt Nam, đầu tư cho con người, đặc biệt là đội ngũ nhân lực tinh hoa, không chỉ là chiến lược lâu dài mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh và bền vững.

Phát triển nhân lực trình độ cao không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục, mà là chiến lược quốc gia để đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên công nghệ số và đổi mới sáng tạo

Cuộc cạnh tranh mới của thời đại tri thức

Thế giới đang chuyển động với tốc độ chưa từng có. Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là xu hướng, mà đã trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh toàn cầu không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ, mà tập trung vào trí tuệ, vào khả năng sáng tạo và làm chủ công nghệ.

Việt Nam từng phát huy hiệu quả lợi thế dân số trẻ và lực lượng lao động dồi dào. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn phát triển mới, mô hình tăng trưởng dựa trên số lượng đã bộc lộ rõ giới hạn. Giá trị thực sự của nền kinh tế giờ đây nằm ở chất lượng nguồn nhân lực, ở khả năng tạo ra tri thức và công nghệ có giá trị gia tăng cao.

Những lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học hay y học hiện đại đang tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu. Quốc gia nào làm chủ tri thức và công nghệ sẽ giữ vai trò trung tâm. Ngược lại, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao sẽ dẫn tới nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc. Chính vì vậy, phát triển nhân lực tinh hoa được xem là chìa khóa để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nhận thức rõ yêu cầu này, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định quyết tâm tạo đột phá trong giáo dục và đào tạo, coi đây là nền tảng căn bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn, ngành giáo dục xác định trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông, hướng tới trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á.

Đến năm 2030, khoảng 20% cơ sở giáo dục sẽ được đầu tư hiện đại, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất đạt chuẩn tiên tiến. Đến năm 2035, hệ thống phổ cập trung học phổ thông sẽ hoàn thành, chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người đạt trên 0,85.

Song song với giáo dục phổ thông, giáo dục đại học được xác định là trụ cột quan trọng trong đào tạo nhân lực trình độ cao. Mục tiêu đặt ra là có ít nhất hai cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam lọt vào nhóm 100 trường hàng đầu thế giới, qua đó nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế. Tầm nhìn đến năm 2045, hệ thống giáo dục Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới, lấy phát triển nhân tài khoa học và công nghệ làm lợi thế cạnh tranh cốt lõi.

Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, hợp tác quốc tế được coi là một trong những giải pháp then chốt. Theo PGS-TS. Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, giai đoạn 2021-2025, các đối tác chính trong hợp tác đào tạo với các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho giáo dục chủ yếu đến từ Hoa Kỳ, Singapore và Hàn Quốc.

Hiện tại cả nước có 423 chương trình liên kết đào tạo tại các cơ sở đại học, trải rộng trên 67 ngành đào tạo, trong đó nhóm ngành kinh tế - quản lý chiếm tỷ trọng lớn, tiếp đến là khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Ngoài ra, 32 trường cao đẳng đang triển khai 77 chương trình liên kết đào tạo. Trong giai đoạn 2023-2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký kết 47 văn bản hợp tác quốc tế, đồng thời ký các thỏa thuận công nhận tương đương văn bằng với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Việt Nam cũng tích cực tham gia các diễn đàn giáo dục đa phương, đảm nhiệm vai trò Chủ tịch hợp tác giáo dục ASEAN, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á và chuẩn bị chủ trì Hội nghị APEC năm 2027. Những hoạt động này cho thấy nỗ lực chủ động hội nhập và tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới.

Những điểm nghẽn cần tháo gỡ trong phát triển nhân lực

Dù định hướng và chính sách đã rõ ràng, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần được nhìn nhận thẳng thắn. Nhân lực chất lượng cao không thể hình thành nếu chỉ dừng ở văn bản hay mục tiêu dài hạn. Điều quan trọng hơn là môi trường làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp và chính sách đãi ngộ đủ sức cạnh tranh.

Trong giáo dục đại học, mối liên kết giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động vẫn còn yếu. Nhiều chương trình đào tạo vẫn thiên về lý thuyết, trong khi kết quả nghiên cứu khoa học chuyển hóa thành sản phẩm và dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội còn chậm.

Theo thống kê, chỉ riêng ngành công nghệ thông tin Việt Nam đã đối mặt với tình trạng thiếu hụt khoảng 200.000 nhân lực và sự thiếu hụt này tập trung chủ yếu tại các trung tâm lớn như Hà Nội, TP.HCM. Sự thiếu hụt về số lượng nhân lực này đáng báo động và tạo ra khoảng cách về chất lượng giữa một “lực lượng lao động” thông thường và một đội ngũ “nhân tài” ưu tú thực sự.

Đồng thời, chính sách thu hút và giữ chân giảng viên, nhà khoa học chưa đủ sức cạnh tranh với môi trường quốc tế. Nếu những hạn chế này không được khắc phục kịp thời, chúng có thể trở thành rào cản đáng kể đối với sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục và xã hội.

Để gỡ các điểm nghẽn nêu trên, PGS-TS. Nguyễn Thu Thủy cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học tăng cường hợp tác với các trường đại học uy tín và các doanh nghiệp lớn ở nước ngoài.

Cùng với đó là khuyến khích phát triển các mô hình giáo dục số và giáo dục xuyên biên giới, mở rộng hợp tác song phương và đa phương, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Theo bà Thủy, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên cần được đào tạo, bồi dưỡng định kỳ để nâng cao năng lực hội nhập quốc tế, cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hội nhập trong toàn ngành.

Bên cạnh những giải pháp trên, bà Thủy cũng khuyến nghị xây dựng chiến lược thu hút và chuyển đổi sinh viên quốc tế từ các chương trình ngắn hạn sang dài hạn, mở rộng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào giáo dục, đồng thời nâng cấp cơ sở vật chất giáo dục, đặc biệt ở bậc phổ thông và các cơ sở đào tạo chất lượng cao.

Là Thủ đô và trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học của cả nước, Hà Nội đang chuyển mạnh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chủ đạo. Quá trình này đặt ra nhu cầu rất lớn về một thế hệ lao động mới có trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn và công nghệ sinh học.

Thách thức đặt ra không chỉ là bổ sung số lượng lao động, mà quan trọng hơn là hình thành đội ngũ nhân lực có tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề phức tạp và khả năng dẫn dắt trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Để tạo bứt phá trong phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, đưa giáo dục đại học trở thành động lực tăng trưởng thực chất của Thủ đô, Hà Nội cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính chiến lược và đột phá, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW.

Trọng tâm trước hết là hoàn thiện thể chế và đổi mới quản trị, theo hướng trao quyền tự chủ toàn diện cho các trường đại học trọng điểm, tạo cơ chế linh hoạt về tài chính, nhân sự và nghiên cứu, đủ sức thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu.

Cùng với đó, Luật Thủ đô cần được hoàn thiện theo hướng có cơ chế đặc thù vượt trội, cho phép Hà Nội chủ động đầu tư trực tiếp cho nghiên cứu, thí điểm chính sách visa dài hạn và ưu đãi thuế đối với chuyên gia quốc tế, đồng thời hình thành các khu đổi mới sáng tạo có cơ chế vận hành riêng để thúc đẩy thương mại hóa tri thức.

Song song với cải cách thể chế là xây dựng chính sách đãi ngộ cạnh tranh thông qua khung lương đặc thù, quỹ phát triển nhân tài khoa học công nghệ và các chính sách an sinh phù hợp.

Trên nền tảng đó, Hà Nội cần ưu tiên đầu tư hạ tầng nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, tăng cường liên kết giữa đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đổi mới chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, tập trung vào các ngành mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ sinh học.

Trong số các lĩnh vực đòi hỏi nhân lực chất lượng cao, y tế là ví dụ điển hình. Đây không chỉ là ngành dịch vụ, mà còn gắn trực tiếp với sức khỏe, sinh mạng và niềm tin của người dân. PGS-TS. Phan Thị Thu Hương, Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Y Hà Nội khẳng định, nguồn nhân lực y tế chất lượng cao giữ vai trò sống còn, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa chuyên môn sâu, tư duy khoa học hiện đại và y đức vững vàng.

Còn theo bác sỹ Lê Văn Cường, Giám đốc Sở Y tế Thanh Hóa, việc xây dựng y tế thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hồ sơ bệnh án điện tử và sổ sức khỏe số chỉ có thể thành công khi con người thực sự là trung tâm của quá trình chuyển đổi. Ngành y tế Thanh Hóa đang từng bước cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời chú trọng đào tạo, đãi ngộ và tạo động lực để đội ngũ cán bộ y tế yên tâm công tác.

Thực tiễn từ giáo dục, khoa học công nghệ đến y tế cho thấy, nhân lực tinh hoa không thể được tạo dựng trong thời gian ngắn, mà là kết quả của chiến lược dài hạn, nhất quán và lấy con người làm trung tâm. Khi nguồn nhân lực chất lượng cao được đầu tư đúng mức, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ thực sự trở thành động lực đưa Việt Nam tiến nhanh và vững chắc trên con đường hội nhập, phát triển bền vững và khẳng định vị thế trong kỷ nguyên tri thức.

“Chìa khóa mềm” để TP.HCM thu hút nhân lực chất lượng cao
Theo ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng tại Văn phòng ADB Việt Nam, để giữ chân và thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao, TP.HCM...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư