Thứ Năm, Ngày 23 tháng 07 năm 2026,
Hà Nội phê duyệt “Đề án liên thông dữ liệu, tối ưu hóa chi phí logistics - xuất nhập khẩu”
Hạnh Phúc - 23/07/2026 08:01
 
Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu vừa ký ban hành Quyết định số 3675/QĐ-UBND ngày 22/7/2026 về việc phê duyệt “Đề án liên thông dữ liệu, tối ưu hóa chi phí logistics - xuất nhập khẩu”.

Mục tiêu tổng quát của Đề án nhằm đề xuất cơ chế phối hợp liên thông dữ liệu phục vụ logistics trong xuất nhập khẩu giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hà Nội nhằm mục đích tối ưu hóa chi phí logistics - xuất nhập khẩu thông qua quy chế phối hợp và vận hành cụ thể.

Trọng tâm là giảm chi phí tuân thủ liên quan đến giải phóng hàng, chi phí phát sinh ngoài kế hoạch, thời gian xử lý thủ tục và chi phí logistics trong xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng tính minh bạch trong xử lý nghiệp vụ và tạo cơ sở phát triển logistics số, logistics thông minh trong giai đoạn tới.

Hình minh họa.

Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, Thành phố đề ra các nhóm giải pháp, cụ thể là về thể chế, chính sách. Trọng tâm là xây dựng, trình ban hành và tổ chức thực hiện Quy chế phối hợp liên thông dữ liệu nhằm tối ưu hóa chi phí logistics trong xuất nhập khẩu.

Quy chế phải trở thành sản phẩm thực thi trực tiếp của Đề án, xác định rõ phạm vi áp dụng, chủ thể tham gia, nguyên tắc chia sẻ dữ liệu, danh mục dữ liệu tối thiểu, phương thức cập nhật, xác thực, khai thác, phản hồi và sử dụng lại dữ liệu.

Đối với nhóm giải pháp về tái cấu trúc quy trình, yêu cầu mỗi luồng thí điểm phải lập bản đồ điểm phát sinh chi phí, gồm điểm làm doanh nghiệp khai lại thông tin, điểm làm xe chờ, điểm làm hàng lưu kho/lưu bãi, điểm làm container quá hạn, điểm làm hồ sơ phải bổ sung và điểm làm nhân sự phải đối chiếu thủ công. Thiết kế quy trình phản hồi trạng thái theo hành động. Trạng thái “cần bổ sung” phải nêu rõ loại dữ liệu cần bổ sung, chủ thể có trách nhiệm, thời hạn xử lý và tác động đến lịch lấy hàng.

Trạng thái “đã hoàn tất nghĩa vụ tài chính trong thông quan” phải đủ để doanh nghiệp quyết định điều xe hoặc đặt lịch kho. Trạng thái “đủ điều kiện lấy hàng” phải gắn với địa điểm, khung giờ, mã lô hàng, mã container và điều kiện ra/vào kho bãi hoặc cảng cạn.

Về nhóm giải pháp về hạ tầng kỹ thuật và công nghệ, không xây dựng hệ thống mới thay thế các hệ thống nghiệp vụ đang vận hành của từng cơ quan, đơn vị. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu dựa trên hệ thống hiện có; ưu tiên kết nối trực tuyến giữa các hệ thống, kết hợp trao đổi dữ liệu theo lô có kiểm soát khi cần thiết và tuân thủ chuẩn trao đổi dữ liệu thống nhất.

Thiết lập nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu logistics của Thành phố theo hướng gọn, mở và có thể mở rộng. Chuẩn hóa bộ mã định danh dùng chung trong giai đoạn thí điểm, gồm mã số doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế, số tờ khai, số vận đơn, mã container theo ISO 6346, mã địa điểm lưu giữ, mã kho bãi, mã cảng cạn, mã giấy phép, mã chứng thư và mã trạng thái xử lý.

Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy và nhân lực, tổ chức thực hiện phải bám đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và tránh giao việc chung chung. Trong giai đoạn thí điểm, UBND TP. Hà Nội chỉ đạo chung; Sở Công Thương là đầu mối nghiệp vụ logistics và đơn vị sử dụng kết quả chính; Sở Khoa học và Công nghệ là đầu mối kỹ thuật; Sở Xây dựng chủ trì dữ liệu hạ tầng, giao thông, tuyến vận tải và điểm nghẽn thuộc phạm vi quản lý; Hải quan, Thuế, cơ quan chuyên ngành, kho bãi, cảng cạn, doanh nghiệp và hiệp hội chịu trách nhiệm với dữ liệu do mình quản lý hoặc tạo lập.

Bên cạnh đó, nhóm giải pháp về truyền thông cũng được chú trọng, trong đó cần hướng vào lợi ích cụ thể của từng nhóm tham gia, thay vì chỉ thông tin chung về chuyển đổi số. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần thấy lợi ích giảm cung cấp lại dữ liệu và theo dõi được trạng thái xử lý; doanh nghiệp logistics cần thấy lợi ích điều xe đúng thời điểm; kho bãi và cảng cạn cần thấy lợi ích giảm ùn ứ tại cổng; cơ quan quản lý cần thấy lợi ích giảm hồ sơ trùng, giảm đối chiếu thủ công và có dữ liệu phục vụ điều hành.

Cơ chế huy động doanh nghiệp cần thể hiện rõ mô hình lợi ích hai chiều: doanh nghiệp cung cấp dữ liệu vận hành tối thiểu như lịch phương tiện, trạng thái kho bãi, booking, container, thời gian chờ và chi phí phát sinh ở mức phù hợp; đổi lại, doanh nghiệp được nhận trạng thái xử lý theo lô hàng, cảnh báo điểm nghẽn, thông tin kho bãi/ICD được phân quyền, khuyến nghị thời điểm điều xe - đặt kho - lấy/trả container và báo cáo đối chiếu chi phí ở dạng phục vụ điều hành. Chỉ khi doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích trực tiếp, việc chia sẻ dữ liệu tư nhân mới có khả năng duy trì sau thí điểm.

Cùng với đó, tổ chức đối thoại định kỳ với hiệp hội, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp logistics, kho bãi, cảng cạn và đơn vị vận tải để phát hiện sớm vướng mắc khi vận hành. Các phản ánh cần được phân loại theo nhóm: lỗi dữ liệu, lỗi kỹ thuật, chậm phản hồi, vướng mắc thẩm quyền, chi phí phát sinh và kiến nghị điều chỉnh quy trình.

Luật Thủ đô mở thêm dư địa phát triển doanh nghiệp Hà Nội
Cải cách mạnh thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế đặc thù theo Luật Thủ đô 2026 và mở rộng các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo đang...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư