-
Quảng Ngãi tháo gỡ dự án Khu công nghiệp Sao Mai -
Đắk Lắk cần hơn 12.200 tỷ đồng giải phóng mặt bằng dự án đường sắt tốc độ cao
-
Quảng Ninh phân bổ hơn 2.338 tỷ đồng cho loạt dự án hạ tầng, an sinh -
Làm rõ kịch bản đầu tư Dự án xây dựng đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng -
Rà soát tổng thể Quy hoạch hệ thống cảng hàng không -
Các Bộ hoàn thành cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trước 20/5/2026
![]() |
Những tham số chính
Ban Quản lý dự án đường sắt vừa có văn bản gửi Bộ Giao thông - Vận tải (GTVT) xem xét, xin ý kiến các bộ, ngành để hoàn thiện và đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt đề xuất Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng sử dụng vốn vay ưu đãi của Chính phủ Trung Quốc.
Đây là thủ tục pháp lý quan trọng đầu tiên cần phải hoàn tất trong bước chuẩn bị đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Theo đề xuất của Ban Quản lý dự án đường sắt, Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, với nhà tài trợ vốn dự kiến là Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank), có mục tiêu xây dựng mới tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn 1.435 mm, điện khí hóa, kết nối với Trung Quốc và khu vực cảng biển Hải Phòng.
Tuyến có điểm đầu tại điểm kết nối ray qua biên giới giữa ga Lào Cai (Việt Nam) và ga Hà Khẩu Bắc (Trung Quốc); điểm cuối tại cảng Lạch Huyện (Hải Phòng), với tổng chiều dài chính tuyến 388,35 km (đoạn ga Lào Cai - ga Cảng Lạch Huyện dài 383,24 km; đoạn ga Lào Cai - điểm nối ray dài 5,11 km); tuyến nhánh nối cảng Nam Hải Phòng và Nam Đình Vũ dài 7,89 km; tuyến nhánh nối ga Yên Thường và ga Yên Viên dài 2,18 km.
Trên tuyến có 30 ga, với 3 ga lập tàu, 19 ga hỗn hợp và 8 ga kỹ thuật; đi qua 9 tỉnh, thành phố: Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng.
Dự kiến, Dự án có tốc độ thiết kế 160 km/h trên đoạn chính tuyến ga Lào Cai - ga Cảng Lạch Huyện, 80 km/h cho đoạn Lào Cai - điểm nối ray và các đoạn tuyến nhánh, 120 km/h đối với đoạn đường sắt qua khu đầu mối Hà Nội, đi trùng đường sắt vành đai phía Đông.
Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, Dự án dự kiến phân kỳ đầu tư thành 2 giai đoạn.
Giai đoạn I (đến năm 2030), hoàn thành xây dựng toàn tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng theo quy mô đường đơn, giải phóng mặt bằng quy mô hoàn chỉnh.
Giai đoạn II (sau năm 2050), hoàn thành xây dựng toàn tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng theo quy mô đường đôi và xây dựng đoạn tuyến nhánh Nam Hải Phòng - Nam Đình Vũ.
Với quy mô đầu tư như trên, tổng mức đầu tư Dự án khoảng 211.030 tỷ đồng, tương đương 62,583 tỷ nhân dân tệ và khoảng 8,693 tỷ USD, bao gồm 135.600 tỷ đồng vốn vay ưu đãi được sử dụng cho các hạng mục chi phí xây dựng; chi phí thiết bị, phương tiện; chi phí tư vấn thiết kế, giám sát thi công; chi phí dự phòng cho các hạng mục trên và khoảng 75.430 tỷ đồng vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam được sử dụng cho các hạng mục: chi phí quản lý dự án; thuế giá trị gia tăng; chi phí tư vấn khác và chi phí khác; chi phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư; lãi vay và chi phí dự phòng.
“Dự kiến, thời gian thực hiện Dự án khoảng 6 năm kể từ khi Dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và Hiệp định vay có hiệu lực”, đại diện Ban Quản lý dự án đường sắt cho biết.
Áp lực tiến độ khởi công
Trước đó, tại Thông báo số 575/TB-VPCP, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ GTVT báo cáo Chính phủ, cấp có thẩm quyền cho chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trong tháng 1/2025; trình Quốc hội phê duyệt tại Kỳ họp Quốc hội trong tháng 2/2025; bảo đảm hoàn thành các quy trình, thủ tục, công việc cần thiết để khởi công toàn tuyến trước ngày 10/12/2025.
Theo đánh giá của các chuyên gia, đây là nhiệm vụ đầy thách thức đối với Bộ GTVT và các đơn vị liên quan, bởi để có thể khởi công Dự án, theo quy định của Luật Đầu tư công, Bộ GTVT, trong vai trò là cơ quan chủ quản, cần phải hoàn thành 7 hạng mục công việc chủ yếu, gồm lập và phê duyệt đề xuất dự án; lập, thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư; lập và trình Thủ tướng Chính phủ thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi; đàm phán và ký hiệp định vay; lập và phê duyệt thiết kế kỹ thuật; đấu thầu, đàm phán và ký kết hợp đồng xây lắp; giải phóng mặt bằng.
Nếu triển khai theo các điều kiện thông thường, để hoàn tất toàn bộ các thủ tục, công việc nói trên, ước tính cần khoảng 4 năm.
Được biết, vào giữa tháng 12/2024, Bộ GTVT từng đề xuất lãnh đạo Chính phủ lộ trình nước rút để khởi công Dự án vào cuối năm 2025, trong đó khẳng định điều kiện tiên quyết là các cơ quan liên quan cần vào cuộc quyết liệt để rút ngắn tiến độ, hoàn thành các nội dung công việc. Trong đó, trình Quốc hội phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi trong tháng 5/2025; phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi trong tháng 7/2025; ký kết Hiệp định vay ngay sau khi Báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt.
“Đây là mục tiêu rất nhiều thách thức, cần thống nhất nhận thức và có sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ngành. Đặc biệt, các địa phương phải phối hợp chặt chẽ với Bộ GTVT để triển khai việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư ngay sau khi chủ trương đầu tư Dự án được duyệt”, lãnh đạo Bộ GTVT cho biết.
-
Các Bộ hoàn thành cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trước 20/5/2026 -
Đà Nẵng phân loại, tháo gỡ khó khăn cho các dự án vốn ngoài ngân sách -
Kiến tạo lối đi riêng cho trung tâm tài chính TP.HCM -
Cắt giảm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện: Phá vỡ “tảng băng” tư duy tiền kiểm -
Bố trí các tuyến đường sắt trong phạm vi Cảng hàng không quốc tế Long Thành -
Gia Lai: Gần 170 dự án, tổng vốn đầu tư hơn 46.000 tỷ đồng sắp được khởi công -
Đầu tư 12.000 tỷ đồng nâng cấp Quốc lộ 1, Hà Nội - Bắc Giang thành cao tốc
-
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026 -
Heineken Việt Nam cam kết phát triển bền vững cùng Đà Nẵng và miền Trung -
Doanh nghiệp SME giao dịch ngoại tệ tại VPBank nhận nhiều ưu đãi hấp dẫn -
Sài Thành Foods: Chuyên nghiệp hóa chuỗi giá trị phân phối thủy hải sản Việt -
Diamond Hill Thái Nguyên khai trương tầng thực tế, hiện thực hóa chuẩn sống cao cấp giữa trung tâm thành phố -
Đầu tư phòng thí nghiệm dược: Khi thiết bị chưa đủ để tạo hiệu quả

