Chủ Nhật, Ngày 06 tháng 09 năm 2026,
Mở đường cho kinh tế tầm thấp bay cao
Tú Ân - 06/09/2026 08:58
 
Để kinh tế tầm thấp trở thành một ngành kinh tế thực sự, Việt Nam cần nhanh chóng tháo gỡ điểm nghẽn về hành lang pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, dữ liệu, thị trường và hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ…

Cơ hội từ một không gian phát triển mới

Việt Nam đang đứng trước cơ hội trở thành trung tâm công nghiệp tầm thấp của khu vực và thế giới. Theo Liên minh Kinh tế tầm thấp Việt Nam, kinh tế tầm thấp có thể thúc đẩy hàng ngàn doanh nghiệp phụ trợ, tạo khoảng 1 triệu việc làm chất lượng cao và mang về hàng chục tỷ USD cho Việt Nam trong 10 - 15 năm tới.

GS-TS. Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam đánh giá, kinh tế tầm thấp cần được nhìn nhận như một không gian phát triển mới, có khả năng tạo ra những nguồn lực hoàn toàn mới và kết nối với hàng loạt lĩnh vực đang tồn tại trên mặt đất, từ nông nghiệp, logistics, giao thông, đô thị đến quản lý tài nguyên và kinh tế biển.

Điều đáng chú ý, giá trị của lĩnh vực này không chỉ nằm ở doanh thu của những doanh nghiệp sản xuất thiết bị hay cung cấp dịch vụ bay, mà còn nằm ở phần năng suất được tạo thêm cho các ngành kinh tế khác. Trong nông nghiệp, công nghệ tầm thấp có thể mở rộng đáng kể diện tích giám sát, phun thuốc và quản lý đồng ruộng.

Trang4-kttthap2 (1)
Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư nguồn lực cho R&D và làm chủ công nghệ, nhưng rào cản lớn vẫn là thiếu thị trường đầu ra và cơ chế đặt hàng rõ ràng

Trong logistics, thiết bị bay không người lái (UAV) có thể đưa hàng hóa tới những khu vực trước đây phương tiện thông thường khó tiếp cận. Trong quản lý hạ tầng, thiết bị bay có thể giám sát đường dây tải điện, phát hiện sớm sự cố, qua đó giảm chi phí và rủi ro.

Tại Việt Nam, những bài toán thực tế này càng rõ nét. Ông Tạ Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty HTI UAS cho rằng, UAV không còn chỉ gắn với quốc phòng, an ninh hay quay phim, mà đang mở rộng sang nông nghiệp, logistics, cứu hộ cứu nạn, giám sát hạ tầng và vận chuyển hàng hóa. Với địa hình nhiều vùng núi, đảo và những khu vực giao thông khó khăn, Việt Nam có nhiều “bài toán” mà UAV có thể giải quyết hiệu quả.

Ông Nguyễn Văn Thuật, Phó vụ trưởng Vụ Kinh tế số và xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ) đánh giá, kinh tế không gian tầm thấp đang nổi lên như một động lực tăng trưởng mới. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác định, phát triển kinh tế không gian tầm thấp trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng và có năng lực cạnh tranh cao.

“Chúng ta vừa tạo ra một lĩnh vực đem lại doanh thu, tăng trưởng và việc làm, vừa phải xây dựng nền tảng đồng bộ về công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, hạ tầng số, dữ liệu, quản trị, từ đó hình thành hệ sinh thái công nghiệp cho kinh tế không gian tầm thấp”, ông Thuật nhấn mạnh.

trang4.jpg

“Vật cản” trên đường bay

Cơ hội lớn đang mở ra, nhưng con đường để UAV cất cánh trên quy mô thương mại vẫn còn không ít “vật cản”. Theo ông Thanh, các doanh nghiệp đang gặp khó với hành lang thử nghiệm và tiêu chuẩn kỹ thuật. Nghiên cứu, phát triển UAV đòi hỏi phải có điều kiện bay thử thực tế, trong khi quy trình thử nghiệm, kiểm định và cấp phép bay vẫn có những điểm khiến doanh nghiệp khó chủ động.

“Có những lúc rơi vào câu chuyện con gà, quả trứng. Muốn bay thử thì phải đáp ứng điều kiện kiểm định, nhưng để hoàn thiện sản phẩm và kiểm định thì cần dữ liệu từ quá trình bay thử”, ông Thanh nói và đề xuất Nhà nước nhanh chóng ban hành bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho thiết bị bay tầm thấp, tạo căn cứ để doanh nghiệp trong nước sản xuất, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm.

TS. Trần Thiên Phương, Phó chủ tịch Mạng lưới Hàng không Vũ trụ và Thiết bị bay không người lái Việt Nam (AUVS VN) cho rằng, thị trường UAV Việt Nam mới vượt qua giai đoạn chứng minh công nghệ, chưa thể vận hành thường xuyên và tạo hiệu quả kinh tế ổn định do vướng cơ chế.

Rào cản lớn hiện nay là quy trình cấp phép bay còn phức tạp, phải xin phép theo từng chuyến, tạo độ trễ cho cả hoạt động thương mại lẫn cứu hộ khẩn cấp. Trong khi đó, doanh nghiệp đã làm chủ thiết kế hệ thống, tích hợp bộ điều khiển bay và trí tuệ nhân tạo (AI); một số linh kiện cốt lõi vẫn phải nhập khẩu nhưng đang từng bước được nội địa hóa.

Điều doanh nghiệp thiếu không chỉ là giấy phép bay, mà còn là một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để đầu tư dài hạn. Theo ông Phương, các doanh nghiệp vẫn thiếu hệ thống tiêu chuẩn, kiểm định, khu thử nghiệm, bảo hiểm và cơ chế mua sắm công.

Đây cũng là lý do ông Nguyễn Văn Thuật cho rằng, cần một cơ chế quản lý liên ngành để điều phối và tháo gỡ điểm nghẽn. Kinh tế tầm thấp là lĩnh vực mới, có tính đa ngành, liên quan đến quốc phòng, công an, giao thông vận tải, khoa học và công nghệ, công thương. Nếu mỗi lĩnh vực vận hành theo một “đường bay” riêng, thì khoảng trống phối hợp có thể trở thành lực cản đối với cả thị trường.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, khó khăn lớn nhất hiện nay không hẳn nằm ở công nghệ. Nếu chờ toàn bộ hệ thống pháp luật hoàn thiện rồi mới triển khai, Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển. Nhưng triển khai đại trà khi chưa đánh giá đầy đủ nguy cơ lại khó bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, an toàn bay và lợi ích xã hội.

Vì vậy, thay vì lựa chọn giữa “chờ” và “làm ngay”, một phương án thứ ba được đặt ra: cho phép đổi mới trong phạm vi được kiểm soát thông qua cơ chế sandbox. Sandbox không phải nới lỏng quản lý, mà là cơ chế xác định rõ phạm vi, thời gian thử nghiệm, yêu cầu an toàn và trách nhiệm của các bên, qua đó hoàn thiện chính sách dựa trên dữ liệu thực tiễn.

Gỡ điểm nghẽn dưới mặt đất

Một chiếc UAV có thể bay trên trời, nhưng để cả ngành kinh tế tầm thấp “cất cánh”, những điểm nghẽn quan trọng lại nằm dưới mặt đất.

GS-TS. Hoàng Văn Cường cho rằng, với những lĩnh vực mới như kinh tế tầm thấp, Nhà nước cần đóng vai trò “nhà kiến tạo thị trường”, trong đó có thể trở thành khách hàng đầu tiên, đặt hàng sản phẩm và dịch vụ để tạo nền tảng ban đầu cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới.

Tuy nhiên, ông lưu ý, không nên chỉ đặt hàng vài ngàn chiếc UAV rồi để doanh nghiệp tự tìm đầu ra. Thay vào đó, Nhà nước nên đặt hàng cả những nhiệm vụ cần giải quyết, như giám sát nguy cơ cháy rừng, phát hiện và cảnh báo lũ quét, theo dõi sâu bệnh, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp...

Cách làm này tạo ra một “thị trường mồi”, giúp doanh nghiệp có nguồn thu ban đầu, đồng thời chứng minh hiệu quả công nghệ và mở đường để dịch vụ nhân rộng ra toàn xã hội. Cơ chế đặt hàng, theo ông Cường, cũng cần thiết kế theo hướng cạnh tranh, tránh tạo độc quyền cho một doanh nghiệp; có thể lựa chọn một số doanh nghiệp cùng tham gia để cạnh tranh, hợp tác và từng bước hình thành ngành công nghiệp mới.

Để hiệu ứng này hình thành tại Việt Nam, bài toán thị trường phải đi cùng bài toán công nghiệp. Ông Thanh cho biết, doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư nguồn lực cho R&D và làm chủ công nghệ, nhưng rào cản lớn vẫn là thiếu thị trường đầu ra và cơ chế đặt hàng rõ ràng. Xa hơn, drone Việt Nam cần một hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ đủ mạnh.

“Muốn phát triển UAV, không thể chỉ có một doanh nghiệp làm tất cả. Chúng ta cần cả hệ sinh thái gồm cơ khí, điện tử, vật liệu, phần mềm, động cơ và truyền dẫn”, ông Thanh nói.

TS. Trần Thiên Phương cũng cho rằng, cần xây dựng cơ chế thị trường minh bạch, quy định rõ điều kiện tham gia và trách nhiệm pháp lý. Nhà nước có thể đặt hàng các dịch vụ công ích như vận chuyển y tế khẩn cấp, giám sát hạ tầng hay cứu hộ để tạo đầu ra ổn định cho doanh nghiệp.

Từ thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế, ông Hồ Tuấn Sỹ, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đề xuất, Việt Nam đi theo lộ trình từng bước. Trước mắt, ưu tiên những ứng dụng có nhu cầu rõ, giá trị cao và rủi ro thấp như nông nghiệp, logistics y tế, cứu nạn. Tiếp đó là xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung, cơ chế phối hợp liên bộ, bảo hiểm trách nhiệm, chứng chỉ vận hành hệ thống quản lý giao thông không người lái (UTM) và an ninh dữ liệu. Chỉ khi có đủ bằng chứng về an toàn và năng lực tài chính, mới tính tới việc mở rộng sang taxi bay chở khách.

Bầu trời tầm thấp hiện không còn là khoảng không chỉ dành cho những chuyến bay thử nghiệm. Đó có thể trở thành một “tầng” kinh tế mới, nơi công nghệ bay kết nối với nông nghiệp, logistics, hạ tầng, đô thị và hàng loạt ngành sản xuất, dịch vụ. Nhưng để mở cánh cửa ấy, Việt Nam không chỉ cần những chiếc UAV đủ khả năng cất cánh, mà cần cả một hệ sinh thái đủ sức giữ chúng bay an toàn, hiệu quả và tạo ra giá trị trên mặt đất.

Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư