-
Thông tin về sắp xếp các Học viện, Trường Công an nhân dân -
Hà Nội phê duyệt học phí mới cho 35 trường chất lượng cao -
Các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương hợp tác cùng nâng chuẩn an toàn mũ bảo hiểm -
Bộ Nội vụ phản hồi đề xuất giáo viên nữ nghỉ hưu ở tuổi 55, nam 60 -
Hà Nội kiến tạo thương hiệu lễ hội Jazz quốc tế
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục. Nghị định sau khi ban hành dự kiến thay thế Nghị định số 86/2018/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2024/NĐ-CP.
Điểm đáng chú ý của dự thảo không chỉ nằm ở việc mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết giáo dục quốc tế mà còn thể hiện sự thay đổi phương thức quản lý. Thay vì duy trì nhiều thủ tục phê duyệt trước, cơ quan quản lý định hướng mở rộng quyền tự chủ của cơ sở giáo dục, tăng phân cấp, phân quyền, quản lý dựa trên dữ liệu và hậu kiểm.
![]() |
| Hợp tác giáo dục quốc tế không chỉ giới hạn trong hoạt động đào tạo, cấp bằng mà có thể mở rộng sâu hơn sang nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và xây dựng hạ tầng nghiên cứu. |
Sự thay đổi này được kỳ vọng tạo dư địa thuận lợi hơn cho dòng vốn, chương trình đào tạo, công nghệ và nguồn lực giáo dục quốc tế tham gia thị trường Việt Nam, song đi cùng yêu cầu cao hơn về minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người học.
Ở khối mầm non và phổ thông, dự thảo đưa ra ba hình thức liên kết giáo dục, gồm thực hiện chương trình giáo dục của Việt Nam nhằm đạt mục tiêu cao hơn về chất lượng; chương trình tích hợp giữa chương trình Việt Nam và chương trình nước ngoài; chương trình giáo dục của nước ngoài.
Một đề xuất đáng chú ý là cho phép học sinh mang quốc tịch Việt Nam học chương trình giáo dục nước ngoài ở cấp trung học phổ thông tại các cơ sở thuộc đối tượng được phép và không quy định giới hạn tỷ lệ học sinh Việt Nam theo học.
Dù vậy, học sinh Việt Nam vẫn phải học các môn bắt buộc theo quy định. Việc tổ chức chương trình phải bảo đảm mục tiêu giáo dục của Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của người học cũng như khả năng chuyển tiếp trong hệ thống giáo dục.
Với chương trình giáo dục tích hợp, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ tổ chức thẩm định, phê duyệt trước khi triển khai. Tuy nhiên, một chương trình đã được một Sở Giáo dục và Đào tạo phê duyệt có thể được cơ sở giáo dục khác sử dụng mà không phải thực hiện lại quy trình thẩm định, phê duyệt nếu nội dung chương trình không thay đổi.
Quy định này nếu được thông qua có thể giảm đáng kể việc lặp lại thủ tục đối với cùng một chương trình, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho việc nhân rộng các mô hình liên kết giáo dục đã đáp ứng yêu cầu.
Không gian hợp tác quốc tế cũng được mở rộng đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Ở bậc đại học, dự thảo xác định ba hình thức liên kết gồm liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ; liên kết thành lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm; thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam.
Còn với giáo dục nghề nghiệp, hai hình thức được xác định gồm liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ và liên kết thành lập khoa, trung tâm, đơn vị chuyên môn. Dự thảo cũng bổ sung khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động hợp tác, đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.
Đối với văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, cách quản lý được đề xuất chuyển trọng tâm sang công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và hậu kiểm, đồng thời xác định rõ phạm vi hoạt động.
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của dự thảo là định hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Đối với liên kết đào tạo với nước ngoài, cơ sở giáo dục được mở rộng quyền tự chủ trong xem xét, quyết định theo quy trình nội bộ. Cơ chế phê duyệt trước chỉ được duy trì đối với một số trường hợp cần tăng cường kiểm soát chất lượng.
Thay đổi còn thể hiện rõ ở hoạt động liên kết tổ chức thi, cấp chứng chỉ nước ngoài. Thay vì phải chờ phê duyệt trước, dự thảo đề xuất chuyển sang cơ chế tự chủ quyết định, gắn với nghĩa vụ công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và chịu hậu kiểm.
Đi cùng quyền tự chủ là trách nhiệm của các bên đối với chất lượng, an toàn, bảo mật, phòng chống gian lận và bảo vệ quyền lợi người dự thi.
Với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, dự thảo cũng không quy định lại những điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư, thành lập và cho phép hoạt động đã được điều chỉnh bởi pháp luật về đầu tư và các nghị định chuyên ngành. Cách tiếp cận này nhằm hạn chế tình trạng một hoạt động phải chịu nhiều lớp thủ tục có nội dung trùng lặp.
Tuy nhiên, giảm tiền kiểm không đồng nghĩa nới lỏng quản lý. Trái lại, dự thảo đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc công khai thông tin, cập nhật dữ liệu, báo cáo và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục, nhà đầu tư cũng như các bên tham gia hợp tác, liên kết.
Cơ chế giám sát cũng được đề xuất thay đổi theo hướng đánh giá mức độ tuân thủ và phân loại rủi ro để xác định mức độ kiểm tra phù hợp. Hoạt động giám sát từ xa được ưu tiên thông qua dữ liệu, thông tin công khai, báo cáo, phản ánh của người học, nhà giáo, người lao động và kết quả kiểm định chất lượng.
-
Hà Nội kiến tạo thương hiệu lễ hội Jazz quốc tế -
Hà Nội lập 4 đoàn kiểm tra đột xuất bữa ăn bán trú -
“Jazz & Phố” kể hành trình hơn một thế kỷ của Jazz tại Hà Nội -
Tuyển sinh đại học từ năm 2027 dự kiến thay đổi mạnh -
Ra quân thiết lập trật tự an toàn giao thông Khu công nghiệp Liên Hà Thái -
Hà Nội mưa ngập, nhiều trường chuyển học online, lùi giờ vào lớp -
MEXC Foundation tiếp tục mở rộng hành trình đồng hành cùng cộng đồng Việt Nam qua các hoạt động Trung thu
-
Hiện đại hóa đô thị, giao thông bằng quản trị video tích hợp AI cùng Univision -
Công ty CP Green i-Park ký kết Thỏa thuận hợp tác đầu tư với Trung tâm Kinh tế Thương mại Trung Quốc - ASEAN -
5 điểm Galaxy Z Fold8 Ultra vượt trội về thông số so với iPhone Duo -
Tour Thượng Hải mùa thu 2026: Bay thẳng Sun PhuQuoc Airways, No Shopping, giá từ 14,99 triệu đồng -
Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Nga: “Tôi chọn kinh doanh từ một câu hỏi về cuộc sống” -
NAPAS, VietinBank và Central Retail Corporation Thái Lan ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác

