Thứ Sáu, Ngày 06 tháng 02 năm 2026,

Phanh tốc độ tăng trưởng tín dụng là hợp lý
Mạnh Bôn - 06/02/2026 07:31
 
Nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng. Năm 2026, tăng trưởng GDP được “ấn định” tối thiểu 10%, nhưng tăng trưởng tín dụng tối đa chỉ còn 15%, thay vì 19% như năm 2025. Theo TS. Lê Xuân Sang, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, việc phanh tốc độ tăng trưởng tín dụng là hợp lý.
TS. Lê Xuân Sang, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

Việc Ngân hàng Nhà nước phanh tốc độ tăng trưởng tín dụng được nhiều chuyên gia cho rằng do lo ngại lạm phát quay trở lại. Quan điểm của ông thế nào?

Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) năm 2025 tăng 3,31%, thấp hơn rất nhiều mục tiêu dưới 4-4,5% của Quốc hội, dù gặp áp lực từ điều chỉnh giá y tế, giáo dục và đầu tư công tăng mạnh, đặc biệt là tín dụng tăng trưởng tới 19% - mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 của Cục Thống kê đã giải thích rất rõ nguyên nhân. Tôi đồng ý với phân tích, lý giải của Cục Thống kê, nhưng bổ sung thêm rằng, việc kiểm soát lạm phát thành công trong năm 2025 và nhiều năm qua còn có yếu tố Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa linh hoạt, giúp giữ ổn định kinh tế vĩ mô theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, thương mại điện tử phát triển mạnh. Nếu như trước đây, khi thương mại điện tử chưa xuất hiện hoặc còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng mức bán lẻ hàng hóa, mỗi khi có biến động hay điều chỉnh chính sách như thiên tai, bão lũ, tăng lương, tăng giá xăng dầu… thì giá hàng hóa, dịch vụ thường tăng theo, người tiêu dùng đành phải “bấm bụng” chi tiêu. Nhưng khi thương mại điện tử phát triển, người dân, đặc biệt là lớp trẻ, ngày càng mua sắm trực tuyến nhiều hơn, giá cả minh bạch hơn và hầu như không phụ thuộc vào không gian. Khi thương mại truyền thống tăng giá, họ chuyển sang “chợ online”. Thương mại truyền thống bị cạnh tranh và ở thế yếu nên không thể tùy tiện tăng giá với lý do lương tăng, giá xăng dầu tăng hay điện tăng.

Ngoài ra, hệ thống siêu thị có lợi thế về giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ đã được mở rộng khắp các khu dân cư, cạnh tranh trực diện với chợ truyền thống, cửa hàng tạp hóa bán buôn, bán lẻ, góp phần không nhỏ vào việc kiểm soát lạm phát.

Vì vậy, việc Ngân hàng Nhà nước hạ trần tăng trưởng tín dụng từ 19% năm 2025 xuống còn 15%, theo tôi, không phải do lo ngại lạm phát quay trở lại, mà nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào vốn vay ngân hàng. Việc giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, theo ông, có ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số?

Đúng là nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn ngân hàng, tín dụng/GDP trên 145%. Đây là mức cao so với nhiều nước trên thế giới, tiềm ẩn rủi ro về an toàn hệ thống, đòi hỏi phải phát triển cân bằng hơn với các kênh vốn khác.

Nhìn lại 40 năm qua, có thể thấy, không phải lúc nào tín dụng tăng thì kinh tế cũng tăng trưởng tương ứng và ngay lập tức, trong khi rủi ro thì hiện hữu rõ ràng, bởi tăng trưởng tín dụng luôn có độ trễ so với tăng trưởng kinh tế. Năm 2025, tín dụng đã tăng trưởng 19%, lượng vốn bơm ra nền kinh tế cần có thời gian mới phát huy tác dụng. Nếu năm nay tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trên nền tăng cao của năm trước thì rủi ro sẽ rất lớn.

Tín dụng tăng trưởng cao, nhưng chủ yếu chảy vào thương mại, dịch vụ, đặc biệt là bất động sản - những lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Khi tốc độ được phanh lại, dòng tiền sẽ tập trung hơn cho hoạt động sản xuất, nhất là các lĩnh vực ưu tiên. Đây là sự nắn dòng kịp thời, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Như vậy, việc phanh tốc độ tăng trưởng tín dụng ở thời điểm này là hợp lý, thưa ông?

Thực tế ở nhiều nước trên thế giới đã chứng minh, tăng trưởng tín dụng quá nóng sẽ làm gia tăng rủi ro nợ xấu, lạm phát, bong bóng tài sản…, gây bất ổn tài chính vĩ mô. Khi một lượng lớn vốn đổ vào nền kinh tế, sản xuất, kinh doanh có thể tăng trưởng nhanh, nhưng cũng dễ dẫn đến dư thừa năng lực sản xuất, kéo theo sự sụt giảm mạnh giá cả sản phẩm trong các ngành liên quan. Hệ quả là nhiều doanh nghiệp thua lỗ, phá sản do hàng tồn kho lớn, nợ xấu ngân hàng gia tăng và hàng loạt vấn đề kinh tế - xã hội khác nảy sinh.

Khi vốn ngân hàng đổ vào nền kinh tế quá mức, việc phân bổ nguồn vốn trở nên kém hiệu quả, lợi nhuận trên vốn có thể bằng hoặc thấp hơn chi phí tín dụng. Hậu quả là nợ nần không bền vững, mất cân đối kinh tế, làm suy yếu doanh nghiệp và tính lành mạnh của hệ thống tài chính.

Thưa ông, ngưỡng tín dụng bao nhiêu là phù hợp?

Trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế khác nhau nên không có một chuẩn chung về dư nợ tín dụng. EU quy định dư nợ tín dụng dưới 92% GDP là ít gây rủi ro; nếu xấp xỉ 100% GDP thì nguy cơ rủi ro gia tăng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 1,5-2 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế được xem là hợp lý.

Dư nợ tín dụng của Việt Nam hiện tương đương khoảng 145% GDP, có thể đã ở mức cao. Năm 2026, nếu GDP tăng trưởng tối thiểu 10% thì mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% là phù hợp.

Trong những năm qua, Việt Nam đạt được nhiều thành công trong phát triển kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát nhờ nhiều yếu tố, trong đó có việc Chính phủ kiên định điều hành chính sách tài khóa - tiền tệ linh hoạt.

Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GDP tối thiểu 10% - mức cao nhất từ trước đến nay. Để bảo đảm tốc độ tăng trưởng này, Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 đã đặt yêu cầu phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; điều hành dựa trên nguyên tắc thị trường, tránh lạm dụng biện pháp hành chính. Trong đó, chính sách tài khóa được mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả.

Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ. Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng; tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đồng thời kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Giảm dần sự phụ thuộc vào vốn ngân hàng, ý ông là nền kinh tế cần trông chờ vào nguồn vốn nào khác?

Cần đa dạng hóa nguồn vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường tài chính như chứng khoán, trái phiếu… Trong những năm gần đây, thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển đáng kể, tuy nhiên mức vốn hóa mới đạt khoảng 390 tỷ USD, tương đương 82% GDP, vẫn thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới. Hơn nữa, lượng vốn doanh nghiệp huy động qua thị trường chứng khoán hàng năm còn khá khiêm tốn.

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế tích cực, tỷ giá ổn định. Đặc biệt, năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đánh dấu cột mốc lịch sử khi chính thức được tổ chức FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Điều này cho thấy nền kinh tế còn dư địa rất lớn để huy động vốn qua kênh này.

Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới có nợ công ở mức rất cao, thì đến hết năm 2025, nợ công của Việt Nam ước khoảng 35-36% GDP; nợ Chính phủ khoảng 33-34% GDP; nợ nước ngoài quốc gia khoảng 31-32% GDP. Các chỉ tiêu này không chỉ thấp hơn nhiều nước, mà còn cách xa ngưỡng an toàn, tạo dư địa để Chính phủ phát hành trái phiếu đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt là xây dựng kết cấu hạ tầng, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Nhưng gia tăng vay nợ đồng nghĩa với nghĩa vụ trả nợ tăng lên, gây áp lực trong tương lai, thưa ông?

Thực tế, lãi suất trái phiếu chính phủ (TPCP) của Việt Nam hiện thuộc nhóm thấp nhất thế giới, thậm chí TPCP kỳ hạn 5-10 năm còn thấp hơn nhiều nước phát triển. Đây là cơ hội để Chính phủ vay vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tăng trưởng 2 con số trong 5-10 năm tới.

Không đáng lo ngại nếu vay nợ đi kèm với đầu tư hiệu quả. Vì vậy, trong dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Chính phủ định hướng sử dụng hiệu quả dư địa nợ công và bội chi trong giới hạn an toàn để huy động nguồn lực cho đầu tư, trong đó có phát hành TPCP cho các công trình trọng điểm. Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính chủ động điều hành linh hoạt kỳ hạn, khối lượng phát hành TPCP trong năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho ngân sách nhà nước, dự phòng những thời điểm thị trường không thuận lợi và bảo đảm an toàn nợ công, thanh khoản thị trường.

Tăng trưởng tín dụng của MSB đạt 15,8%, lãi thuần từ dịch vụ tăng ấn tượng
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) vừa công bố kết quả kinh doanh 2025 với dấu ấn mạnh mẽ về mở rộng quy mô và gia tăng chất lượng nguồn...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư