Thứ Sáu, Ngày 16 tháng 10 năm 2026,
Siết an toàn thực phẩm từ gốc, kiểm soát rủi ro toàn chuỗi
D.Ngân - 16/10/2026 09:32
 
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới thay đổi căn bản phương thức quản lý, từ kiểm soát từng khâu riêng lẻ và xử lý sự cố sang chủ động đánh giá, dự báo nguy cơ trên toàn bộ chuỗi cung ứng.

Công tác quản lý an toàn thực phẩm đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, không chỉ nhằm phát hiện và xử lý những sản phẩm không bảo đảm chất lượng mà còn chủ động ngăn chặn các yếu tố nguy cơ ngay từ quá trình sản xuất ban đầu.

Đây là một trong những định hướng quan trọng của dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), dự kiến được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, diễn ra từ ngày 17/10 đến 20/11/2026.

chuan-bi-trien-khai-phan-tich-nguy-co-trong-du-thao-luat-an-toan-thuc-pham-205650_798-090336
Đại diện Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia và Trung tâm Đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm quốc gia Trung Quốc ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác. Ảnh: Trần Minh.

Theo Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), điểm đáng chú ý của dự thảo là chuyển từ phương thức kiểm soát từng công đoạn riêng lẻ, chủ yếu ứng phó khi phát sinh sự cố, sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm dựa trên nguy cơ. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát các mối nguy có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, thay vì chỉ tập trung vào kiểm tra sản phẩm ở những khâu cuối cùng.

Theo đó, hoạt động quản lý sẽ bao quát từ sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, thu hái đến chế biến, lưu thông, kinh doanh và tiêu dùng. Những nguy cơ liên quan đến dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, tác nhân ô nhiễm hóa học, vi sinh vật và các yếu tố không bảo đảm an toàn thực phẩm sẽ được xem xét trong từng mắt xích của chuỗi cung ứng.

Sự thay đổi này có ý nghĩa quan trọng bởi nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể phát sinh ở bất kỳ công đoạn nào. Nếu chỉ kiểm tra sản phẩm khi đã đưa ra thị trường, việc phát hiện vi phạm và thu hồi thường đi kèm với những khó khăn trong truy xuất nguồn gốc, xác định trách nhiệm và hạn chế ảnh hưởng đối với người tiêu dùng.

Trong khi đó, quản lý dựa trên nguy cơ cho phép cơ quan chức năng tập trung nguồn lực vào những sản phẩm, công đoạn và cơ sở có mức độ rủi ro cao, từ đó tăng hiệu quả phòng ngừa và giảm sự phụ thuộc vào các biện pháp xử lý sau khi sự cố đã xảy ra.

Một trong những nội dung cốt lõi của phương thức quản lý mới là áp dụng phân tích nguy cơ an toàn thực phẩm theo hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (Codex). Hệ thống này bao gồm ba cấu phần có mối liên hệ chặt chẽ là đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ.

Trong đó, đánh giá nguy cơ là hoạt động nhận diện, phân tích các mối nguy dựa trên bằng chứng khoa học và dữ liệu về an toàn thực phẩm. Hoạt động này được thực hiện độc lập với quá trình quản lý và truyền thông nguy cơ, nhằm bảo đảm các kết luận chuyên môn có cơ sở khách quan.

Kết quả đánh giá là căn cứ để cơ quan quản lý lựa chọn những biện pháp can thiệp phù hợp, từ xây dựng quy chuẩn kỹ thuật, tổ chức kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu đến truy xuất nguồn gốc và triển khai hậu kiểm đối với sản phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Khác với cách kiểm tra dàn trải, quản lý dựa trên nguy cơ cho phép điều chỉnh mức độ và phương thức giám sát theo đặc điểm của từng nhóm sản phẩm, công đoạn sản xuất hoặc cơ sở kinh doanh. Những mắt xích có nguy cơ cao được ưu tiên kiểm soát, trong khi nguồn lực quản lý có thể được phân bổ phù hợp hơn với mức độ rủi ro thực tế.

Tuy nhiên, để phương thức này phát huy hiệu quả, yêu cầu tiên quyết là phải có hệ thống dữ liệu đủ tin cậy, được cập nhật thường xuyên và có khả năng kết nối giữa các cơ quan quản lý.

Theo dự thảo Luật, cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia cần bao quát thông tin về vòng đời sản phẩm; các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước; kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát và các vụ ngộ độc thực phẩm.

Đây là những nguồn thông tin quan trọng để nhận diện xu hướng, phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định trên cơ sở dữ liệu thực tế.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung cũng được kỳ vọng góp phần khắc phục tình trạng thông tin phân tán, thiếu liên thông giữa các khâu quản lý. Khi dữ liệu về sản phẩm, cơ sở sản xuất, kết quả kiểm nghiệm và hoạt động giám sát được tích hợp, việc truy xuất nguồn gốc, khoanh vùng và xử lý sản phẩm có nguy cơ không bảo đảm an toàn sẽ có thêm cơ sở để triển khai nhanh chóng, chính xác hơn.

Theo định hướng của dự thảo, Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin an toàn thực phẩm; đồng thời tích hợp dữ liệu toàn ngành, kết nối và chia sẻ với hệ thống thông tin của chính quyền các cấp và các cơ sở dữ liệu tập trung quốc gia.

Tuy nhiên, hiệu quả của hệ thống không chỉ phụ thuộc vào quy mô đầu tư công nghệ mà còn ở chất lượng dữ liệu, cơ chế cập nhật, chia sẻ thông tin và năng lực phân tích. Nếu dữ liệu thiếu đồng bộ hoặc chưa phản ánh đầy đủ thực tế sản xuất, kinh doanh, việc đánh giá và dự báo nguy cơ sẽ khó đạt độ tin cậy cần thiết.

Vì vậy, cùng với hoàn thiện hành lang pháp lý, phát triển năng lực chuyên môn và tổ chức bộ máy phục vụ phân tích nguy cơ được xác định là nhiệm vụ quan trọng.

Để chuẩn bị cho quá trình triển khai, Bộ Y tế đã thành lập Trung tâm Đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm thuộc Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia, từng bước thực hiện các hoạt động đánh giá nguy cơ theo hướng dẫn quốc tế.

Bộ Y tế cũng tổ chức nhiều cuộc họp, hội thảo tham vấn, nghiên cứu kinh nghiệm của Canada, Ireland, Australia, New Zealand và những quốc gia có điều kiện, tập quán sử dụng thực phẩm tương đồng với Việt Nam. Các hoạt động này nhằm tiếp cận phương pháp đánh giá, quản lý và truyền thông nguy cơ, đồng thời lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn trong nước.

Đáng chú ý, ngày 14/10/2026, Cục An toàn thực phẩm đã ký kết Biên bản ghi nhớ về triển khai phân tích nguy cơ an toàn thực phẩm với Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia.

Cùng dịp này, Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác với Trung tâm Đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm quốc gia Trung Quốc và trao Biên bản ghi nhớ hợp tác với Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Quốc gia Seoul (SeoulTech), Hàn Quốc.

Những hoạt động hợp tác này là bước chuẩn bị về chuyên môn và tổ chức, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận kinh nghiệm, phương pháp đánh giá nguy cơ và tăng cường năng lực nghiên cứu, phân tích trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

Theo Cục An toàn thực phẩm, khi mô hình phân tích nguy cơ được triển khai vào thực tiễn, cơ quan quản lý có thể chủ động đánh giá, dự báo các mối nguy về hóa học, vật lý, vi sinh và những chất gây dị ứng có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Trường hợp phát hiện một mắt xích trong chuỗi cung ứng có nguy cơ cao, kết quả phân tích sẽ là cơ sở để triển khai các biện pháp quản lý phù hợp, trong đó có truy xuất nguồn gốc, kiểm soát hoặc thu hồi sản phẩm khi cần thiết.

Cách tiếp cận này hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quản lý, tập trung kiểm soát những khu vực, sản phẩm và công đoạn có nguy cơ cao, thay vì phân bổ hoạt động kiểm tra một cách dàn trải.

Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, việc từng bước xây dựng hệ thống quản lý dựa trên nguy cơ cũng đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm kiểm soát chất lượng trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Các cơ sở sản xuất, chế biến và phân phối thực phẩm cần chú trọng hơn đến quản lý nguyên liệu đầu vào, điều kiện sản xuất, hệ thống truy xuất nguồn gốc và khả năng cung cấp dữ liệu phục vụ hoạt động giám sát.

Về lâu dài, một hệ thống quản lý minh bạch, dựa trên tiêu chuẩn khoa học có thể góp phần nâng cao niềm tin của người tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ yêu cầu an toàn thực phẩm và tăng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng của thị trường.

Tuy nhiên, từ định hướng chính sách đến triển khai đồng bộ trên thực tế vẫn còn nhiều yêu cầu cần giải quyết. Việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu, chuẩn hóa phương pháp đánh giá, phát triển nhân lực chuyên môn và bảo đảm phối hợp giữa các cơ quan quản lý có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả thực hiện.

Đặc biệt, hệ thống phân tích nguy cơ chỉ có thể phát huy giá trị khi kết quả đánh giá khoa học được sử dụng thực chất trong việc xây dựng quy định, xác định trọng tâm kiểm tra, giám sát và tổ chức các biện pháp phòng ngừa.

Sửa Luật siết quản lý an toàn thực phẩm
Tăng hậu kiểm, siết truy xuất nguồn gốc và quản lý thực phẩm trên môi trường số là những trọng tâm trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư