Thứ Ba, Ngày 01 tháng 09 năm 2026,
Đổi cách quản lý an toàn thực phẩm, giảm tiền kiểm nhưng không giảm trách nhiệm
D.Ngân - 01/09/2026 09:00
 
Giảm những thủ tục tiền kiểm không cần thiết, tăng hậu kiểm dựa trên nguy cơ và lịch sử tuân thủ đang được đặt ra trong quá trình sửa Luật An toàn thực phẩm.

Quản lý an toàn thực phẩm đang đứng trước yêu cầu thay đổi khi thị trường ngày càng đa dạng, hoạt động sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh thực phẩm phát triển nhanh, trong khi phương thức kinh doanh trên môi trường mạng đặt ra những thách thức mới.

Trong bối cảnh đó, vấn đề kiểm soát không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu thủ tục được thực hiện trước khi sản phẩm lưu thông, mà quan trọng hơn là cơ quan quản lý có đủ khả năng giám sát, phát hiện và xử lý nhanh những sản phẩm nguy cơ cao hay không.

content (57)

Bộ Y tế đang là đầu mối phối hợp các bộ, ngành và cơ quan liên quan xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội xem xét, ban hành tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI.

Nội dung này được cử tri TP.HCM đặt ra khi kiến nghị rà soát, hoàn thiện cơ chế quản lý an toàn thực phẩm theo hướng giảm bớt những thủ tục tiền kiểm không cần thiết đối với doanh nghiệp chấp hành tốt quy định, đồng thời bảo vệ quyền lợi, sức khỏe người tiêu dùng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan cho biết, Bộ Y tế đang là đầu mối phối hợp các bộ, ngành và cơ quan liên quan xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội xem xét, ban hành tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI.

Trước đó, ngày 9/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 184/NQ-CP thông qua chính sách Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Một trong những định hướng đáng chú ý là giảm bớt thủ tục tiền kiểm, tăng hậu kiểm, qua đó từng bước chuyển phương thức quản lý từ kiểm soát nặng về thủ tục sang quản lý dựa trên nguy cơ và mức độ tuân thủ.

Với nhóm thực phẩm phải đăng ký bản công bố, phạm vi một số sản phẩm thuộc diện thực hiện thủ tục được điều chỉnh giảm so với Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, trong đó có nhóm phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, phụ gia không thuộc danh mục được phép sử dụng hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định.

Đối với thực phẩm nhập khẩu, định hướng mới là tăng hậu kiểm ngay tại cửa khẩu thông qua lấy mẫu kiểm nghiệm ngẫu nhiên theo tỷ lệ nhất định. Thực phẩm vẫn có thể được thông quan mà không phải chờ kết quả kiểm nghiệm. Nếu kết quả không đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền sẽ truy xuất nguồn gốc, áp dụng biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn sự cố và xử lý vi phạm.

Cách quản lý này đặt ra yêu cầu năng lực hậu kiểm phải đủ mạnh để việc giảm tiền kiểm không tạo ra khoảng trống quản lý. Thay vì kiểm tra đồng đều tất cả sản phẩm và doanh nghiệp, nguồn lực quản lý được tập trung nhiều hơn vào những sản phẩm, cơ sở và khâu trong chuỗi cung ứng có nguy cơ cao.

Việc kiểm tra sẽ dựa trên phân tích nguy cơ an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng, sử dụng nhiều nguồn dữ liệu như kết quả đánh giá nguy cơ, kết quả kiểm nghiệm, thông tin về sự cố mất an toàn thực phẩm, kết quả giám sát và lịch sử chấp hành quy định của cơ sở qua các cuộc thanh tra, kiểm tra trước đó.

Như vậy, doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt có thể được giảm những thủ tục không cần thiết, trong khi cơ sở từng vi phạm hoặc sản phẩm có nguy cơ cao sẽ trở thành đối tượng cần tăng cường giám sát. Cơ chế này cũng tạo động lực để doanh nghiệp duy trì việc tuân thủ bởi lịch sử chấp hành trở thành một trong những căn cứ xác định mức độ kiểm tra.

Cùng với thay đổi phương thức kiểm soát, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính được đặt trong cơ chế công nhận các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến.

Cơ sở sản xuất áp dụng một trong các hệ thống như Global GAP, ASEAN GAP, hữu cơ, RA, GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 có thể được áp dụng cơ chế quản lý phù hợp. Cơ sở trong nước đáp ứng điều kiện được miễn cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, trong khi cơ sở nhập khẩu được áp dụng phương thức kiểm tra giảm.

Hướng tiếp cận này góp phần chuyển một phần trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm về đúng chủ thể sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp không chỉ cần đáp ứng yêu cầu tại thời điểm thực hiện thủ tục mà phải duy trì hệ thống quản lý chất lượng, khả năng truy xuất và mức độ tuân thủ trong suốt quá trình hoạt động.

Song song với giảm thủ tục cho những chủ thể chấp hành tốt, chế tài đối với vi phạm đang được rà soát theo hướng tăng tính răn đe. Cử tri TP.HCM kiến nghị tăng cường kiểm tra, kiểm soát nguồn gốc thực phẩm, xử lý nghiêm việc sử dụng chất cấm, kinh doanh thực phẩm bẩn, thực phẩm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ; đồng thời xây dựng cơ chế quản lý chặt chẽ hơn đối với thực phẩm chế biến, nông sản tiêu dùng hằng ngày và nâng mức xử phạt đối với hành vi có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe người dân.

Bộ trưởng Đào Hồng Lan cho biết, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đang tập trung rà soát việc phân công quản lý nhà nước, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, quản lý thực phẩm trên môi trường mạng và những quy định phục vụ hậu kiểm.

Đáng chú ý, Bộ Y tế cũng đang xây dựng Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng bởi quản lý an toàn thực phẩm hiện liên quan nhiều bộ, ngành, địa phương và nhiều nhóm sản phẩm khác nhau.

Theo quy định hiện hành, trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm được phân công cho Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công thương và Ủy ban nhân dân các cấp theo nhóm sản phẩm, ngành hàng và địa bàn. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm được triển khai đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, quảng cáo và nhập khẩu thực phẩm.

Các hành vi sử dụng chất cấm, kinh doanh thực phẩm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn có thể bị xử lý bằng nhiều hình thức tùy tính chất, mức độ vi phạm. Hệ thống chế tài hiện nay bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hình sự, cùng các hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả.

Bộ Y tế đang phối hợp các bộ, ngành sửa đổi, bổ sung Nghị định số 115/2018/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm theo hướng tiếp tục hoàn thiện chế tài, tăng tính răn đe đối với hành vi vi phạm.

Những thay đổi đang được xây dựng cho thấy giảm tiền kiểm và tăng hậu kiểm cần được thực hiện đồng thời với nâng cao năng lực giám sát, kiểm nghiệm, cảnh báo và truy xuất nguồn gốc. Nếu chỉ giảm thủ tục mà hệ thống hậu kiểm không đủ năng lực phát hiện và phản ứng nhanh, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể dịch chuyển từ khâu quản lý trước lưu thông sang thị trường và cuối cùng là người tiêu dùng.

Ngược lại, khi dữ liệu về sản phẩm, doanh nghiệp, kết quả kiểm nghiệm và lịch sử vi phạm được kết nối, cơ quan quản lý có thể nhận diện nguy cơ tốt hơn, tập trung nguồn lực vào đúng đối tượng cần kiểm soát thay vì phân tán vào những thủ tục mang tính đồng loạt.

Việc sửa Luật An toàn thực phẩm vì vậy không chỉ nhằm cắt giảm thủ tục cho doanh nghiệp. Yêu cầu lớn hơn là thiết lập phương thức quản lý phù hợp với một thị trường thực phẩm ngày càng phức tạp, trong đó doanh nghiệp tuân thủ tốt được tạo thuận lợi nhưng những hành vi gian lận, sản xuất và kinh doanh thực phẩm không an toàn phải được phát hiện nhanh, truy xuất đến cùng và xử lý đủ sức răn đe.

Giảm tiền kiểm chỉ thực sự tạo ra cải cách khi hậu kiểm trở nên thông minh và hiệu quả hơn. Đích đến cuối cùng vẫn là xây dựng thị trường thực phẩm minh bạch, nâng trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và tạo một hàng rào bảo vệ đủ mạnh đối với sức khỏe người tiêu dùng.

Được biết, sau hơn 12 năm triển khai, Luật An toàn thực phẩm đã bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh thị trường thực phẩm ngày càng phát triển đa dạng, phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với người tiêu dùng.

Theo Bộ Y tế, một số quy định trong luật hiện hành còn thiếu tính đồng bộ, nhiều nội dung không còn phù hợp với thực tiễn, chưa theo kịp sự phát triển của ngành thực phẩm và xu hướng hội nhập quốc tế. Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm vẫn tồn tại sự chồng chéo, chưa thống nhất, dẫn đến việc giám sát, kiểm tra chất lượng thực phẩm, đặc biệt là nhóm thực phẩm chức năng, thực phẩm bổ sung còn nhiều lỗ hổng.

Công tác hậu kiểm sau khi cơ sở tự công bố hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm chưa thực sự hiệu quả, trong khi tình trạng thực phẩm kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái vẫn diễn biến phức tạp, gây bức xúc trong xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân.

Hiện tại, vẫn còn thiếu cơ chế thu hồi giấy chứng nhận hoặc tạm dừng cung cấp dịch vụ công đối với các cơ sở vi phạm. Việc phân định trách nhiệm giữa cơ sở sản xuất và đơn vị đứng tên công bố sản phẩm chưa rõ ràng, dễ gây khó khăn trong xử lý vi phạm.

Đặc biệt, một số nhóm sản phẩm đặc thù như thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm bổ sung, sản phẩm dành cho trẻ em chưa bị bắt buộc áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến như HACCP (Hệ thống Quản lý an toàn thực phẩm). Đây là một thiếu sót cần được khắc phục trong lần sửa đổi này.

Trước yêu cầu cấp thiết, Bộ Y tế đã tổng kết toàn diện việc thực hiện Luật An toàn thực phẩm, chỉ ra bất cập và xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi. Phiên bản thứ sáu đã hoàn thiện, được công khai lấy ý kiến trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Bộ Y tế và gửi đến các bộ, ngành, địa phương để góp ý.

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) gồm 11 chương, 51 điều, đề cập đầy đủ các nội dung như quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện sản xuất, kinh doanh; hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu; quảng cáo, ghi nhãn; kiểm nghiệm, đánh giá nguy cơ và quản lý rủi ro; thông tin truyền thông và vai trò quản lý nhà nước.

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh, việc sửa đổi luật lần này cần đảm bảo tính thống nhất, khả thi, phù hợp thực tiễn và giải quyết được những vấn đề bức thiết đang đặt ra trong xã hội.

Đề xuất sửa đổi Luật An toàn thực phẩm: Hướng tới quản lý một đầu mối, kiểm soát toàn chuỗi
Bộ Y tế đang lấy ý kiến rộng rãi đối với dự thảo khung chính sách Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), với nhiều đề xuất quan trọng nhằm...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư