-
Giao mùa sang Thu, gia tăng nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp -
Chăm sóc sức khỏe người dân, tri ân người có công: Dấu ấn “Hành trình tri ân” tại đặc khu Côn Đảo -
Mở rộng nguồn lực cho Bảo hiểm y tế, giảm gánh nặng chi trả của người bệnh -
Tin mới y tế ngày 29/8: Tháo gỡ rào cản sinh con trong bối cảnh mức sinh thấp -
Xuyên kỳ nghỉ lễ, không để người bệnh chậm trễ cấp cứu, điều trị
Hút thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ hàng đầu của ung thư phổi
Ung thư phổi tiếp tục là một trong những thách thức lớn của y tế toàn cầu với khoảng 2,5 triệu ca mắc mới mỗi năm. Đây là một trong những loại ung thư phổ biến và gây tử vong hàng đầu, trong khi phần lớn người bệnh vẫn được chẩn đoán khi bệnh đã tiến triển.
PGS-TS.Nguyễn Thị Thái Hòa, Trưởng Khoa Nội 2, Bệnh viện K cho biết, ung thư phổi đang tạo ra gánh nặng đáng kể đối với ngành y tế Việt Nam. Dữ liệu GLOBOCAN cho thấy ung thư phổi thuộc nhóm ung thư có số ca mắc cao nhất, đồng thời là một trong những nguyên nhân tử vong do ung thư hàng đầu tại Việt Nam.
Tuổi trung bình của bệnh nhân ung thư phổi khoảng 64 tuổi, với độ tuổi ghi nhận dao động từ 24 đến 97. Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới và hút thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ hàng đầu, đặc biệt ở nam giới.
Khói thuốc chứa nhiều chất độc và chất gây ung thư. Việc tiếp xúc kéo dài có thể gây tổn thương tế bào phổi, tạo điều kiện cho những biến đổi bất thường tích tụ và dẫn đến ung thư. Nguy cơ nhìn chung tăng theo mức độ và thời gian hút thuốc. Vì vậy, kiểm soát thuốc lá không chỉ có ý nghĩa phòng ngừa các bệnh hô hấp, tim mạch mà còn là một trong những giải pháp quan trọng để giảm gánh nặng ung thư phổi.
![]() |
| Ung thư phổi tiếp tục là một trong những thách thức lớn của y tế toàn cầu với khoảng 2,5 triệu ca mắc mới mỗi năm. |
Tuy nhiên, ung thư phổi không chỉ xảy ra ở người hút thuốc. Các chuyên gia ghi nhận tỷ lệ người không hút thuốc, trong đó có phụ nữ, mắc ung thư phổi cũng cần được quan tâm. Ở nhóm này, bệnh có thể liên quan đến nhiều yếu tố như thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc thụ động, làm việc trong môi trường có hóa chất độc hại, ô nhiễm không khí, bụi mịn PM2.5, khói công nghiệp và khí thải phương tiện giao thông.
Yếu tố di truyền và tiền sử mắc các bệnh phổi mạn tính như lao phổi, xơ phổi hoặc tình trạng viêm phổi tái diễn cũng có thể liên quan đến nguy cơ mắc bệnh. Điều này cho thấy phòng chống ung thư phổi cần được nhìn nhận rộng hơn, không chỉ tập trung vào người trực tiếp hút thuốc mà còn phải giảm phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ trong môi trường sống và làm việc.
Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay là tình trạng phát hiện bệnh muộn. Ước tính khoảng 70-80% bệnh nhân ung thư phổi tại Việt Nam được chẩn đoán ở giai đoạn III hoặc IV. Khi đó, cơ hội điều trị triệt căn giảm đáng kể, trong khi quá trình điều trị phức tạp và kéo dài hơn, làm gia tăng gánh nặng đối với người bệnh, gia đình và hệ thống y tế.
Không ít bệnh nhân ung thư phổi còn mắc đồng thời các bệnh tim mạch, chuyển hóa hoặc hô hấp. Các bệnh lý đi kèm có thể ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn phương pháp điều trị cũng như sức chịu đựng của người bệnh trước những liệu pháp chuyên sâu.
Ung thư phổi được chia thành hai nhóm chính gồm ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không tế bào nhỏ. Trong đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm khoảng 85% tổng số trường hợp. Việc xác định chính xác loại mô bệnh học, giai đoạn bệnh và các đặc điểm sinh học phân tử ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong lựa chọn phương pháp điều trị.
Phát hiện sớm được xem là một trong những yếu tố có thể tạo ra khác biệt lớn về tiên lượng. Đại diện Bệnh viện K cho biết, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong do ung thư phổi giảm khoảng 20% ở nhóm được sàng lọc bằng CT liều thấp so với nhóm chụp X-quang ngực. Tỷ lệ phát hiện kết quả dương tính ở nhóm sàng lọc bằng CT liều thấp cũng cao hơn khoảng 3 lần.
Từ những bằng chứng về hiệu quả của CT liều thấp, nhiều hướng dẫn quốc tế đã đưa phương pháp này vào khuyến nghị sàng lọc đối với những người có nguy cơ cao. Tuy nhiên, việc xác định một người có thuộc nhóm cần sàng lọc hay không cần căn cứ vào tuổi, tiền sử hút thuốc và các yếu tố nguy cơ cụ thể, đồng thời thực hiện theo tư vấn của bác sỹ.
Sàng lọc chỉ là một mắt xích trong quá trình nâng cao hiệu quả điều trị. Khi phát hiện tổn thương nghi ngờ, người bệnh cần tiếp tục được chẩn đoán chính xác về mô bệnh học, giai đoạn và đặc điểm phân tử của khối u. Đây là cơ sở để lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp với từng bệnh nhân.
Được biết, những năm gần đây, điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã có nhiều bước tiến với sự phát triển của liệu pháp miễn dịch và các thuốc điều trị nhắm trúng đích.
Ở những bệnh nhân phù hợp, liệu pháp miễn dịch đã mở thêm cơ hội cải thiện kết quả điều trị. Với bệnh ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn, sự phát triển của các thuốc nhắm vào những biến đổi phân tử đặc hiệu như ALK và EGFR đang giúp một bộ phận bệnh nhân kéo dài thời gian kiểm soát bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, các chiến lược điều trị mới tiếp tục được nghiên cứu và bổ sung. Phác đồ amivantamab kết hợp carboplatin và pemetrexed, bên cạnh vai trò đối với một số trường hợp có đột biến chèn exon 20, cũng mở thêm lựa chọn điều trị cho bệnh nhân mang đột biến EGFR Ex19del hoặc L858R sau khi bệnh tiến triển với thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR.
Với nhóm bệnh nhân có đột biến ALK, những kết quả theo dõi dài hạn cũng cho thấy bước tiến đáng kể của điều trị đích. Dữ liệu nghiên cứu CROWN được các chuyên gia dẫn lại ghi nhận khoảng 55% bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có ALK dương tính được điều trị bằng lorlatinib chưa ghi nhận bệnh tiến triển sau hơn 7 năm theo dõi.
Những tiến bộ này đang từng bước thay đổi cách tiếp cận ung thư phổi, từ điều trị chủ yếu dựa vào vị trí và giai đoạn khối u sang lựa chọn liệu pháp ngày càng cá thể hóa dựa trên đặc điểm sinh học của từng bệnh nhân. Tuy nhiên, để người bệnh thực sự được hưởng lợi, yêu cầu đặt ra là phải phát hiện bệnh sớm hơn, nâng cao năng lực chẩn đoán và xét nghiệm sinh học phân tử, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị mới.
Ba ngày liên tiếp uống rượu, nam thanh niên 30 tuổi viêm gan cấp
Sau những cuộc nhậu liên tiếp vì công việc, nam thanh niên 30 tuổi xuất hiện mệt mỏi, tức hạ sườn phải, đầy bụng, nước tiểu sẫm màu. Kết quả kiểm tra cho thấy chỉ số GGT tăng tới 1.087 U/L, cao gấp khoảng 18 lần giới hạn bình thường, cảnh báo tổn thương gan do rượu ngay ở người trẻ.
Nam bệnh nhân 30 tuổi đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC khám sau khoảng một tuần xuất hiện cảm giác tức vùng hạ sườn phải, kèm theo mệt mỏi và mất ngủ. Trước đó, do tính chất công việc, bệnh nhân đã uống nhiều rượu trong 3 ngày liên tiếp.
Khoảng một tuần sau những cuộc nhậu, cơ thể bắt đầu xuất hiện hàng loạt dấu hiệu bất thường như tức âm ỉ vùng hạ sườn phải, đầy hơi, chướng bụng, đau mỏi, ngứa toàn thân, đi ngoài phân không thành khuôn và nước tiểu sẫm màu.
Tại thời điểm thăm khám, bệnh nhân tỉnh táo, tiếp xúc tốt, da niêm mạc hồng, không phù, không xuất huyết dưới da. Bụng mềm, không chướng, gan lách không sờ thấy, không có phản ứng thành bụng hay cảm ứng phúc mạc. Những biểu hiện bên ngoài chưa cho thấy tình trạng quá nghiêm trọng, nhưng kết quả xét nghiệm lại cảnh báo tổn thương gan đáng lưu ý.
Chỉ số GGT của bệnh nhân lên tới 1.087 U/L, cao gấp khoảng 18 lần giới hạn bình thường. Đây là một trong những chỉ số thường được sử dụng để đánh giá tình trạng tổn thương gan, đặc biệt có thể tăng cao ở người sử dụng nhiều rượu bia. Hai chỉ số men gan ALT và AST cũng tăng nhẹ, lần lượt ở mức 55 U/L và 49 U/L.
Siêu âm đàn hồi gan ghi nhận bệnh nhân đã có gan thoái hóa mỡ độ I. Tuy nhiên, độ cứng gan ở mức F0, chưa ghi nhận tình trạng xơ hóa. Kết quả chụp CT phổi liều thấp chưa phát hiện bất thường tại nhu mô phổi hay tổn thương đáng lưu ý.
Căn cứ tiền sử sử dụng nhiều rượu liên tục cùng kết quả thăm khám và cận lâm sàng, bác sỹ chẩn đoán bệnh nhân viêm gan cấp do rượu. Người bệnh được yêu cầu dừng hoàn toàn rượu bia và các loại đồ uống có cồn, điều trị theo đơn và tái khám sau một tháng.
Trường hợp này một lần nữa cho thấy tổn thương gan liên quan đến rượu không chỉ là câu chuyện của những người uống rượu trong nhiều năm. Việc sử dụng lượng lớn đồ uống có cồn liên tục trong thời gian ngắn cũng có thể tạo ra gánh nặng đáng kể đối với gan, đặc biệt trong bối cảnh thói quen sử dụng rượu bia trong giao tiếp, liên hoan và công việc vẫn khá phổ biến.
ThS.BSNT Phạm Thị Quế, chuyên khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC cho biết, việc sử dụng rượu bia trong các cuộc gặp gỡ hay liên hoan vì công việc cần được nhìn nhận thận trọng. Uống nhiều và liên tục có thể làm gia tăng nguy cơ tổn thương gan, trong đó có viêm gan cấp do rượu.
Viêm gan do rượu là tình trạng gan bị viêm và tổn thương liên quan đến việc tiêu thụ quá nhiều rượu bia. Bệnh có thể diễn biến dưới dạng cấp tính hoặc mạn tính, mức độ biểu hiện rất khác nhau. Có người gần như không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ, nhưng cũng có trường hợp tiến triển thành suy giảm chức năng gan, xơ gan, ung thư gan và thậm chí tử vong.
Những biểu hiện cảnh báo có thể bao gồm vàng da, vàng mắt, chán ăn, mệt mỏi, sụt cân, buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc sốt. Khi thăm khám, người bệnh có thể được phát hiện gan to, đau hoặc lách to. Ở giai đoạn nặng hơn, bệnh nhân có nguy cơ xuất hiện cổ trướng, phù, chảy máu hoặc bệnh não gan. Người lạm dụng rượu kéo dài còn dễ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng do rượu làm giảm cảm giác thèm ăn, trong khi một phần đáng kể năng lượng cơ thể nhận được lại đến từ đồ uống có cồn.
Nguy cơ mắc bệnh gan liên quan đến rượu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là lượng rượu tiêu thụ và thời gian sử dụng. Các dữ liệu chuyên môn được bệnh viện dẫn lại cho thấy, người uống trên 160 g cồn mỗi ngày, tương đương khoảng 500 ml rượu 40 độ, liên tục trong 7 ngày có nguy cơ viêm gan do rượu. Nếu tình trạng này kéo dài nhiều năm, nguy cơ tiến triển thành xơ gan tăng lên đáng kể.
Không chỉ lượng rượu, giới tính, yếu tố di truyền, tình trạng dinh dưỡng và các bệnh gan sẵn có cũng có thể tác động đến nguy cơ tổn thương gan. Nữ giới được đánh giá nhạy cảm hơn với tác động của rượu. Béo phì, chế độ dinh dưỡng không hợp lý, tích tụ sắt trong gan hoặc đồng mắc viêm gan virus cũng có thể làm tổn thương gan trở nên phức tạp hơn.
Viêm gan cấp do rượu nếu được phát hiện sớm, ngừng sử dụng đồ uống có cồn và điều trị phù hợp có thể được kiểm soát. Tuy nhiên, nếu tiếp tục uống rượu bia, tổn thương có thể tái diễn và tiến triển từ gan nhiễm mỡ, viêm gan đến xơ gan. Khi gan đã xơ hóa nghiêm trọng, nguy cơ suy gan và ung thư gan cũng tăng lên.
Đáng lưu ý, rượu không phải yếu tố duy nhất đe dọa sức khỏe lá gan. Viêm gan virus B và C vẫn là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Việt Nam hiện vẫn thuộc nhóm quốc gia có gánh nặng bệnh gan cao, trong khi một bộ phận người nhiễm virus viêm gan chưa được phát hiện, quản lý và điều trị kịp thời.
Thêm lựa chọn điều trị gãy xương ở trẻ đang tuổi phát triển
Bị gãy đầu trên xương cánh tay di lệch nhiều sau tai nạn xe đạp điện, bé gái 14 tuổi được nắn chỉnh kín và cố định xương qua hai đường rạch da chỉ khoảng 5 mm. Kỹ thuật ít xâm lấn không chỉ giảm sẹo mổ mà quan trọng hơn là hạn chế tổn thương mô mềm, bảo tồn màng xương, nguồn cấp máu và vùng sụn tăng trưởng ở trẻ.
Khoa Chấn thương Chỉnh hình và Y học Thể thao, Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội - Cơ sở Linh Đàm vừa tiếp nhận và điều trị cho bệnh nhi Đ.H.A., 14 tuổi, bị chấn thương vai phải sau tai nạn xe đạp điện. Sau tai nạn, trẻ đau nhiều, vùng vai sưng nề, biến dạng và gần như không thể vận động cánh tay phải.
Kết quả chụp X-quang xác định bệnh nhi bị gãy đầu trên xương cánh tay phải, ổ gãy di lệch nhiều. Với một trẻ mới 14 tuổi, tổn thương này đặt ra yêu cầu không chỉ phục hồi hình thái và chức năng của xương mà còn phải tính đến việc bảo vệ tối đa khả năng phát triển lâu dài của hệ xương.
Trước khi chuyển đến Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội - Cơ sở Linh Đàm, bệnh nhi đã được thăm khám tại một cơ sở y tế khác và được tư vấn phẫu thuật mổ mở với đường rạch da dài. Gia đình đặc biệt lo lắng bởi trẻ vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Ngoài vấn đề thẩm mỹ do sẹo mổ, điều gia đình quan tâm là lựa chọn phương pháp điều trị có thể hạn chế tối đa tổn thương mô mềm và những tác động không cần thiết tới quá trình phát triển của xương.
TS.Nguyễn Huy Phương, Trưởng khoa Chấn thương Chỉnh hình và Y học Thể thao cho biết, điều trị gãy xương ở trẻ em và trẻ vị thành niên có nhiều đặc điểm khác biệt so với người trưởng thành. Hệ xương của trẻ chưa hoàn thiện, trong đó sụn tăng trưởng ở đầu các xương dài giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển chiều dài và hình thái của xương.
Vì vậy, mục tiêu điều trị không đơn thuần là đưa ổ gãy trở lại vị trí phù hợp và tạo độ vững chắc. Các bác sỹ đồng thời phải tính toán để hạn chế tối đa tổn thương mô mềm, màng xương, hệ thống mạch máu nuôi xương và tránh những can thiệp không cần thiết vào vùng sụn tăng trưởng.
Trong phẫu thuật mở, tùy từng dạng tổn thương, phẫu thuật viên có thể phải tạo đường tiếp cận đủ rộng và bóc tách mô mềm để bộc lộ ổ gãy. Đây là kỹ thuật cần thiết đối với nhiều trường hợp nhưng mức độ can thiệp vào mô quanh xương cũng lớn hơn.
Trong khi đó, trẻ em có những lợi thế sinh học đáng kể như màng xương dày, nguồn cấp máu tốt, khả năng liền xương và tái cấu trúc xương cao. Vì thế, nếu hình thái ổ gãy, mức độ di lệch và các yếu tố liên quan phù hợp, những kỹ thuật nắn chỉnh kín kết hợp cố định xương ít xâm lấn có thể giúp tận dụng tối đa khả năng phục hồi tự nhiên của trẻ.
Sau khi đánh giá phim X-quang và đặc điểm tổn thương của bệnh nhi, ê-kíp quyết định thực hiện nắn chỉnh kín kết hợp cố định bằng đinh nội tủy đàn hồi ESIN, cụ thể là đinh Metaizeau, dưới sự hỗ trợ của hệ thống X-quang tăng sáng C-arm.
Thay vì mở trực tiếp ổ gãy, phẫu thuật viên chỉ tạo hai đường rạch da khoảng 5 mm ở vùng đầu dưới xương cánh tay. Từ hai vị trí này, hai đinh đàn hồi được đưa vào trong ống tủy.
Dưới sự kiểm soát của hệ thống C-arm, các bác sỹ tiến hành nắn chỉnh ổ gãy, phục hồi trục xương, sau đó đưa các đinh qua ống tủy lên vùng đầu trên xương cánh tay để duy trì kết quả nắn chỉnh. Toàn bộ ca phẫu thuật diễn ra trong khoảng 60 phút.
TS.Nguyễn Huy Phương cho rằng, giá trị của kỹ thuật này không chỉ nằm ở việc tạo ra hai vết mổ nhỏ hơn. Điểm quan trọng là phẫu thuật viên không phải mở và bóc tách trực tiếp ổ gãy, qua đó hạn chế tổn thương mô mềm, bảo tồn màng xương và nguồn cấp máu quanh ổ gãy - những yếu tố có vai trò quan trọng đối với quá trình liền xương ở trẻ.
Quá trình đưa đinh và cố định ổ gãy được kiểm soát dưới hệ thống C-arm, giúp ê-kíp xác định vị trí và hướng đi của dụng cụ, đồng thời hạn chế ảnh hưởng tới vùng sụn tăng trưởng.
Sau phẫu thuật, kết quả X-quang kiểm tra cho thấy ổ gãy được nắn chỉnh tốt, trục xương được phục hồi, hai đinh nội tủy duy trì ổ gãy ở vị trí phù hợp. Bệnh nhi có diễn biến hậu phẫu thuận lợi, mức độ đau giảm dần và bắt đầu được hướng dẫn tập vận động phù hợp.
Đến ngày thứ ba sau phẫu thuật, trẻ đã có thể chủ động vận động cánh tay phải, hai vai cân đối, hai vết mổ nhỏ tiến triển tốt. Với gia đình bệnh nhi, việc trẻ sớm có thể vận động trở lại trong khi không phải trải qua một đường mổ dài giúp giảm đáng kể những lo lắng trước đó.
Tuy nhiên, các bác sỹ lưu ý kết quả vận động sớm mới chỉ là một trong những tín hiệu thuận lợi ban đầu. Bệnh nhi vẫn cần được theo dõi định kỳ bằng thăm khám và X-quang để đánh giá quá trình liền xương, khả năng duy trì kết quả nắn chỉnh cũng như sự phát triển của đầu trên xương cánh tay trong thời gian tiếp theo.
Đặc biệt, ít xâm lấn không đồng nghĩa với việc có thể áp dụng cho tất cả bệnh nhi. Không phải mọi trường hợp gãy đầu trên xương cánh tay ở trẻ đều cần phẫu thuật và cũng không phải trường hợp có chỉ định phẫu thuật nào cũng phù hợp với kỹ thuật đóng đinh nội tủy đàn hồi.
Việc lựa chọn phương pháp điều trị phải dựa trên nhiều yếu tố như tuổi của trẻ, mức độ di lệch, hình thái đường gãy, tình trạng sụn tăng trưởng, tổn thương phần mềm và khả năng nắn chỉnh ổ gãy. Với những trường hợp có chỉ định phù hợp, nắn chỉnh kín kết hợp cố định ít xâm lấn có thể giúp hạn chế bóc tách mô mềm, bảo tồn môi trường sinh học quanh ổ gãy, giảm kích thước sẹo mổ và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phục hồi.
-
Giao mùa sang Thu, gia tăng nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp -
Chăm sóc sức khỏe người dân, tri ân người có công: Dấu ấn “Hành trình tri ân” tại đặc khu Côn Đảo -
Mở rộng nguồn lực cho Bảo hiểm y tế, giảm gánh nặng chi trả của người bệnh -
Tin mới y tế ngày 29/8: Tháo gỡ rào cản sinh con trong bối cảnh mức sinh thấp
-
Tin mới y tế ngày 30/8: Hút thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ hàng đầu của ung thư phổi -
Xuyên kỳ nghỉ lễ, không để người bệnh chậm trễ cấp cứu, điều trị -
Làm chủ kỹ thuật ghép phổi, mở thêm cơ hội sống cho người bệnh -
Tay chân miệng gia tăng, EV71 trở lại với nguy cơ bệnh nặng -
Tin mới y tế ngày 28/8: Chuẩn hóa nhãn thuốc, siết chặt quản lý chất lượng -
100% học sinh Hà Nội được kiểm tra sức khỏe đầu năm -
Mở rộng hợp tác Việt Nam - Ý trong chăm sóc sức khỏe người dân
-
Khánh thành SIB Đà Nẵng, Searee mở rộng danh mục tài sản công nghiệp -
Từ khu công nghiệp đến hạ tầng số: SAIGONTEL cùng đối tác quốc tế phát triển Tổ hợp Trung tâm dữ liệu AI tại Tây Ninh -
AMY GRUPO trước thời điểm IPO: Từ doanh nghiệp vật liệu xây dựng đến câu chuyện tăng trưởng tỷ USD doanh thu -
Eaton mở rộng hợp tác với Habitat for Humanity, xây nhà ở chống chịu thiên tai cho người dân vùng lũ -
LOTTE MART được vinh danh là Doanh nghiệp Sáng tạo và Kinh doanh hiệu quả 2026 -
LOTTE MART Việt Nam được vinh danh là doanh nghiệp xanh

