Thứ Năm, Ngày 27 tháng 08 năm 2026,
Tạo sức cạnh tranh cho du lịch y tế Việt Nam
D.Ngân - 27/08/2026 15:53
 
Với mục tiêu đón khoảng 750.000 lượt khách quốc tế vào năm 2030, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu hình thành hệ sinh thái đồng bộ, chuẩn hóa chất lượng và xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch y tế.

Định vị Việt Nam trên bản đồ du lịch y tế quốc tế

Du lịch y tế đang trở thành một ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao trên thế giới, khi nhu cầu kết hợp khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng ngày càng tăng. Nhiều quốc gia đã xây dựng thành công thương hiệu quốc gia trong lĩnh vực này, biến năng lực y tế thành một lợi thế cạnh tranh mới của ngành du lịch và dịch vụ.

c5634481603ee160b82f
Thị trường du lịch y tế toàn cầu đang tăng trưởng nhanh, mở ra dư địa lớn cho những quốc gia có năng lực y tế, dịch vụ và du lịch cạnh tranh. 

Tại Việt Nam, các hoạt động chăm sóc sức khỏe kết hợp du lịch đã hình thành từ nhiều năm, song mô hình du lịch y tế theo nghĩa hiện đại mới phát triển mạnh trong khoảng một thập niên trở lại đây, song hành với quá trình hiện đại hóa hệ thống y tế và nâng cấp chất lượng dịch vụ du lịch.

Ước tính mỗi năm Việt Nam đón khoảng 300.000 lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế, với tổng chi tiêu từ 1 đến 2 tỷ USD, bao gồm chi phí khám, chữa bệnh cùng lưu trú, đi lại, ăn uống và các dịch vụ liên quan. Hà Nội, TP.HCM, Huế, Khánh Hòa và một số địa phương khác đang từng bước hình thành sản phẩm du lịch y tế dựa trên thế mạnh về bệnh viện chuyên sâu, đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nghỉ dưỡng và y học cổ truyền.

TP.HCM hiện dẫn đầu cả nước, chiếm khoảng 40% lượng khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế nhờ hệ thống y tế chuyên sâu phát triển và sự năng động trong xúc tiến du lịch. Hà Nội đứng thứ hai, trong khi Đà Nẵng, Huế, Khánh Hòa đang từng bước hình thành các sản phẩm du lịch y tế dựa trên thế mạnh về nghỉ dưỡng và y học cổ truyền.

Tuy nhiên, lượng khách hiện nay vẫn tập trung chủ yếu ở kiều bào và khách đến từ Campuchia, Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia cùng một số quốc gia châu Âu, sử dụng các dịch vụ như nha khoa thẩm mỹ, hỗ trợ sinh sản, thẩm mỹ, khám sức khỏe tổng quát và một số chuyên khoa kỹ thuật cao.

Trong khi đó, mỗi năm người Việt Nam vẫn chi khoảng 2-3 tỷ USD để khám, chữa bệnh ở nước ngoài, cao hơn toàn bộ nguồn thu từ khách du lịch y tế vào Việt Nam, cho thấy dư địa giữ chân người bệnh trong nước và thu hút khách quốc tế còn rất lớn.

Nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển lĩnh vực này, từ tài nguyên du lịch phong phú, nhiều di sản thiên nhiên và văn hóa được quốc tế công nhận, chi phí dịch vụ y tế cạnh tranh, nhân lực y tế có trình độ chuyên môn đến nền tảng y học cổ truyền lâu đời. Môi trường chính trị - xã hội ổn định và mức độ an toàn cao cũng tạo thêm lợi thế trong cạnh tranh điểm đến.

Về chuyên môn, Việt Nam hiện có khoảng 100 cơ sở y tế chuyên sâu, trong đó 13 bệnh viện đạt tiêu chuẩn JCI, tập trung chủ yếu tại Hà Nội, Huế và TP.HCM.

Nhiều bệnh viện đã làm chủ các kỹ thuật phức tạp như phẫu thuật robot, ghép tạng, can thiệp tim mạch, điều trị ung thư, hỗ trợ sinh sản cùng các kỹ thuật chuyên sâu về mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt. Song song với y học hiện đại, các phương pháp y học cổ truyền như châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, sử dụng dược liệu cũng có thể phát triển thành những sản phẩm chăm sóc sức khỏe gắn với nghỉ dưỡng, tạo nét khác biệt cho du lịch y tế Việt Nam.

Trong lĩnh vực răng hàm mặt, PGS-TS.Trần Cao Bính, Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội cho rằng, chất lượng và an toàn phải được đặt làm nền tảng, người bệnh quốc tế cần trở thành trung tâm của quá trình thiết kế dịch vụ. Việc phát triển phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế nhưng phù hợp điều kiện Việt Nam, hướng tới xây dựng hệ sinh thái du lịch nha khoa quốc gia với định vị chất lượng, an toàn, giá trị và trải nghiệm.

Cùng với việc hình thành Vietnam Dental Tourism Network, các sản phẩm có khả năng cạnh tranh như Implant nha khoa, phục hình toàn hàm, nha khoa thẩm mỹ, nha khoa kỹ thuật số và chỉnh nha được xác định có thể trở thành những lĩnh vực mũi nhọn, tạo sức hút riêng cho khách quốc tế.

Còn theo GS-TS.Thầy thuốc Nhân dân Đỗ Tất Cường, Chủ tịch Hội đồng cố vấn lâm sàng Hệ thống y tế Vinmec, phát triển du lịch y tế cần sự tham gia đồng bộ của nhiều bộ, ngành và địa phương. Truyền thông quốc tế cần được triển khai theo hướng tích hợp y tế - du lịch - văn hóa, đi kèm nền tảng thông tin đa ngôn ngữ, chính sách thị thực phù hợp cho người bệnh và người thân, hệ thống dịch vụ hỗ trợ từ di chuyển, lưu trú đến tham quan và nghỉ dưỡng.

Về phía các cơ sở y tế, yêu cầu đặt ra là xây dựng các gói dịch vụ rõ ràng, minh bạch chi phí, bảo đảm chất lượng chuyên môn sâu, phát triển năng lực đa chuyên khoa và chịu sự giám sát chặt chẽ về chất lượng, an toàn người bệnh. Chỉ khi người bệnh quốc tế có thể tiếp cận thông tin đầy đủ về cơ sở điều trị, bác sỹ, kỹ thuật, chi phí và dịch vụ hỗ trợ, khả năng cạnh tranh của du lịch y tế Việt Nam mới có thể được nâng lên một cách bền vững.

TS.Hà Anh Đức, Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế, đơn vị thường trực xây dựng Đề án “Phát triển Du lịch y tế giai đoạn 2026-2030”, cho rằng mỗi địa phương và đơn vị cần xác định rõ lĩnh vực mũi nhọn để tập trung đầu tư. Trong đó, y học cổ truyền và phục hồi chức năng được đánh giá có lợi thế đặc thù nhờ nguồn dược liệu, các phương pháp trị liệu không dùng thuốc và khả năng kết hợp với nghỉ dưỡng, phù hợp nhu cầu của nhiều nhóm khách quốc tế, đặc biệt là khách đến từ các nước phương Tây.

Các cơ quan liên quan hiện cũng đang nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chuẩn dành cho bệnh viện, phòng khám và cơ sở y tế tham gia mạng lưới du lịch y tế, đồng thời hoàn thiện cơ chế giá dịch vụ, phương thức kết nối giữa bệnh viện, doanh nghiệp du lịch, cơ sở lưu trú và các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ.

Xây hệ sinh thái để định vị du lịch y tế Việt Nam

Thị trường du lịch y tế toàn cầu hiện được ước tính có quy mô khoảng 100 tỷ USD và có thể tăng trưởng từ 8-16% mỗi năm đến năm 2035, trong đó khu vực châu Á - Thái Bình Dương được dự báo tăng nhanh hơn mức bình quân chung.

Dư địa thị trường lớn đặt ra yêu cầu Việt Nam không chỉ khai thác lợi thế sẵn có mà phải xây dựng chính sách rõ ràng, hành lang pháp lý phù hợp, chuẩn hóa chất lượng dịch vụ và tạo dựng một thương hiệu đủ sức cạnh tranh trong khu vực.

Bộ Y tế đang phối hợp các bộ, ngành xây dựng Đề án “Phát triển Du lịch y tế giai đoạn 2026-2030”, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch y tế cạnh tranh tại Đông Nam Á, từng bước vươn lên nhóm dẫn đầu châu Á, với hệ sinh thái dịch vụ đồng bộ từ y học hiện đại, y dược cổ truyền, phục hồi chức năng đến chăm sóc sức khỏe toàn diện theo tiêu chuẩn quốc tế.

Đề án dự kiến triển khai theo hai giai đoạn 2026-2028 và 2029-2030, đặt mục tiêu có ít nhất 20 bệnh viện đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, 30 gói sản phẩm du lịch y tế được chuẩn hóa và đưa vào vận hành, đồng thời xây dựng Cổng thông tin du lịch y tế quốc gia đa ngôn ngữ và Cơ sở dữ liệu du lịch y tế quốc gia. Bộ nhận diện thương hiệu “Du lịch y tế Việt Nam” cũng dự kiến được ban hành và triển khai thống nhất.

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đón khoảng 750.000 lượt khách du lịch y tế quốc tế, doanh thu trực tiếp từ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe đạt khoảng 1 tỷ USD, tổng chi tiêu của khách và người đi cùng khoảng 2,5 tỷ USD. Những mục tiêu này cho thấy du lịch y tế không còn được nhìn nhận như một sản phẩm bổ trợ đơn lẻ mà đang được định hướng thành một phân khúc dịch vụ có khả năng đóng góp đáng kể cho cả y tế, du lịch và nền kinh tế.

Tại nhiều địa phương, việc xây dựng sản phẩm du lịch y tế cũng đang được thúc đẩy dựa trên lợi thế riêng. Hà Nội đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. TS.Nguyễn Đình Hưng, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết, Hà Nội đang từng bước xây dựng và quảng bá thương hiệu “Hà Nội - Trung tâm y tế chất lượng cao của Việt Nam”, hướng đến trở thành điểm đến chăm sóc sức khỏe và du lịch y tế hàng đầu Đông Nam Á.

Đề án phát triển du lịch y tế TP.HCM giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045, thành phố đang hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm y tế có sức cạnh tranh trong khu vực, dựa trên lợi thế về năng lực chuyên môn, chất lượng điều trị, chi phí hợp lý cùng hệ thống bệnh viện ngày càng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuẩn hóa quy trình chăm sóc theo tiêu chuẩn quốc tế.

Không chỉ thu hút người bệnh bằng những kỹ thuật chuyên sâu, định hướng dài hạn là hình thành hệ sinh thái kết nối khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và nghỉ dưỡng, qua đó tạo ra những sản phẩm du lịch y tế có giá trị gia tăng cao và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

PGS-TS.Tăng Chí Thượng, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM cho biết, thành phố đang thúc đẩy xây dựng mạng lưới y tế chuyên sâu, tăng cường kết nối giữa các bệnh viện công lập, tư nhân và quốc tế nhằm phát huy thế mạnh của từng đơn vị, nâng cao chất lượng điều trị và tạo nền tảng thu hút người bệnh trong nước cũng như quốc tế. Năng lực của y tế thành phố đang được thể hiện qua nhiều kỹ thuật phức tạp và những trường hợp người nước ngoài chủ động lựa chọn Việt Nam để điều trị. 

Đặc biệt, theo ãnh đạo Sở Y tế TP.HCM, du lịch y tế khó có thể tạo được sức bật nếu các cơ sở y tế, doanh nghiệp du lịch và đơn vị cung cấp dịch vụ vẫn phát triển riêng lẻ. Sự liên kết với các doanh nghiệp lữ hành giữ vai trò quan trọng trong việc đưa khách quốc tế và trong nước tiếp cận các dịch vụ y tế, đồng thời kết nối quá trình điều trị với lưu trú, vận chuyển, nghỉ dưỡng và trải nghiệm điểm đến.

Theo đó, thay vì những sản phẩm đơn lẻ, TP.HCM sẽ hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó bệnh viện, doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, cơ sở nghỉ dưỡng và các dịch vụ hỗ trợ cùng tham gia vào một chuỗi giá trị thống nhất.

Ba yếu tố xây dựng sản phẩm cốt lõi, phát triển hệ sinh thái và định vị thương hiệu vì vậy cần được triển khai đồng thời. Khi thế mạnh chuyên môn của y tế được chuyển hóa thành những sản phẩm đặc trưng, kết nối với hệ sinh thái du lịch và được quảng bá bằng một thương hiệu đủ mạnh, TP.HCM mới có thể biến những lợi thế hiện có thành sức cạnh tranh thực chất, tiến tới trở thành điểm đến du lịch y tế có vị thế trong khu vực.

Với khoảng 300.000 lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế mỗi năm, Việt Nam đã có một thị trường ban đầu. Nhưng để đi từ một điểm đến có lợi thế về chi phí thành một thương hiệu du lịch y tế có vị thế tại Đông Nam Á, lợi thế “giá rẻ” là chưa đủ.

Dự thảo Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030 vì vậy hướng tới thiết lập một khuôn khổ chính sách thống nhất ở tầm quốc gia, hoàn thiện thể chế, phát triển sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu, từng bước đưa du lịch y tế trở thành lĩnh vực dịch vụ liên ngành có giá trị gia tăng cao, đồng thời định vị Việt Nam là điểm đến có uy tín trong khu vực.

Mục tiêu đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch y tế có sức cạnh tranh tại Đông Nam Á, từng bước vươn lên nhóm dẫn đầu châu Á; đồng thời xây dựng, định vị thương hiệu quốc gia về du lịch y tế trên thị trường quốc tế.
Khai thác “mỏ vàng” du lịch y tế
Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển du lịch y tế, từ hệ thống cơ sở khám chữa bệnh hiện đại, y học cổ truyền lâu đời, đến cảnh quan...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư