Thứ Năm, Ngày 03 tháng 09 năm 2026,
Từ khát vọng Độc lập đến khát vọng Hùng cường
Từ mùa thu độc lập năm 1945 đến hôm nay là một hành trình rất dài, nhưng cũng có thể xem là sự tiếp nối của một khát vọng duy nhất: để dân tộc Việt Nam được tự quyết định tương lai của mình và để mỗi người Việt Nam có quyền sống trong một đất nước hòa bình, tự do, giàu mạnh và đáng tự hào.
.
Ông Hà Sỹ Đồng (Nguyên Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, đại biểu Quốc hội các Khóa XIII, XIV, XV).

Mỗi dịp Quốc khánh 2/9, khi nhớ lại thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945, tôi luôn có một cảm xúc rất đặc biệt. Đó không chỉ là niềm tự hào về một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, mà còn là sự suy ngẫm về hành trình mà đất nước ta đã đi qua: từ khát vọng giành lại quyền sống, quyền tự do và độc lập cho dân tộc đến khát vọng xây dựng một Việt Nam hòa bình, thống nhất, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

Nhìn lại hơn tám thập kỷ, một sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam hiện đại, đó là khát vọng tự quyết định vận mệnh của mình và không ngừng vươn lên bằng chính sức mạnh của dân tộc mình.

Năm 1945, khát vọng lớn nhất của hàng triệu người Việt Nam là độc lập. Bởi một dân tộc mất độc lập thì không thể nói đến tự do, hạnh phúc hay phát triển. Để bảo vệ nền độc lập ấy, nhiều thế hệ người Việt Nam đã phải đi qua những cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt, chấp nhận những hy sinh mà hôm nay chúng ta khó có thể đo đếm hết bằng những con số.

Là một người sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất Quảng Trị, cảm nhận ấy đối với tôi càng sâu sắc. Quảng Trị từng là giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc, từng chứng kiến những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất. Thành cổ Quảng Trị, dòng Thạch Hãn, Hiền Lương - Bến Hải, Đường 9 - Khe Sanh, những nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Đường 9 và biết bao địa danh khác vẫn nhắc nhở chúng ta rằng độc lập, thống nhất và hòa bình hôm nay đã được đánh đổi bằng máu, nước mắt và tuổi thanh xuân của biết bao thế hệ.

Bởi vậy, theo tôi, giá trị lớn nhất mà lịch sử trao lại cho thế hệ hôm nay không chỉ là một đất nước độc lập, thống nhất, mà còn là trách nhiệm phải làm cho nền độc lập ấy ngày càng có ý nghĩa hơn bằng sự phát triển của đất nước và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Nếu thế hệ cha anh đã đặt câu hỏi: làm thế nào để giành và giữ được độc lập, thì câu hỏi lớn của thế hệ hôm nay phải là: làm thế nào để Việt Nam phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và có vị thế xứng đáng trong thế giới đang thay đổi rất nhanh?

Đó chính là sự tiếp nối từ khát vọng độc lập sang khát vọng hùng cường.

Đổi mới năm 1986 là một bước ngoặt lịch sử trên hành trình ấy. Từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam từng bước mở cửa, hội nhập và trở thành một nền kinh tế có độ mở cao, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị và đời sống quốc tế. Vị thế, uy tín của Việt Nam được nâng lên rõ rệt.

Điều tôi cho là rất đáng trân trọng là trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, Việt Nam vẫn kiên trì giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta mở cửa để phát triển nhưng không đánh mất mình; hội nhập với thế giới nhưng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; chủ động hợp tác nhưng đồng thời phải xây dựng năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Từ thực tiễn nhiều năm công tác ở địa phương và hoạt động tại Quốc hội, tôi càng thấy rõ rằng khát vọng phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể trong đời sống của người dân. Một chủ trương dù đúng đến đâu nhưng nếu không đi được vào cuộc sống, không tạo thêm việc làm, không nâng cao thu nhập, không cải thiện môi trường đầu tư, không làm cho người dân cảm nhận được sự thuận tiện và công bằng hơn thì khát vọng vẫn chưa trở thành hiện thực.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đang đứng trước một cơ hội rất lớn nhưng đồng thời cũng đối diện những thách thức chưa từng có. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, biến đổi khí hậu và sự tái cấu trúc các chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi sâu sắc phương thức phát triển của mọi quốc gia.

Việt Nam không thể bước vào kỷ nguyên mới bằng tư duy và phương thức phát triển của giai đoạn cũ.

Theo tôi, điều quan trọng nhất hiện nay là phải giải phóng mạnh mẽ hơn nữa mọi nguồn lực phát triển của đất nước. Trước hết là nguồn lực con người, sau đó là nguồn lực của doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, đất đai, tài chính, kết cấu hạ tầng và đặc biệt là sức sáng tạo trong xã hội.

Muốn vậy, cải cách thể chế phải thực sự trở thành một đột phá của đột phá. Thể chế không chỉ để quản lý mà trước hết phải kiến tạo phát triển. Những gì người dân và doanh nghiệp có thể làm tốt thì cần tạo điều kiện để họ làm; Nhà nước tập trung xây dựng luật chơi minh bạch, bảo đảm cạnh tranh công bằng, kiểm soát quyền lực và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp.

Tôi đặc biệt kỳ vọng vào một nền quản trị quốc gia hiện đại hơn, trong đó phân cấp, phân quyền phải đi cùng trách nhiệm giải trình; chuyển đổi số phải đi cùng cải cách thủ tục; bộ máy tinh gọn phải đi cùng chất lượng cán bộ và hiệu quả phục vụ. Thước đo cuối cùng của mọi cuộc cải cách không phải là chúng ta đã ban hành bao nhiêu văn bản hay sắp xếp được bao nhiêu đầu mối, mà là người dân có được phục vụ tốt hơn không, doanh nghiệp có thuận lợi hơn không và đất nước có phát triển nhanh hơn không.

Nhìn từ Quảng Trị - mảnh đất từng mang trên mình những vết thương sâu  của chiến tranh - tôi càng cảm nhận rõ ý nghĩa của hai chữ “phát triển”. Một vùng đất từng là giới tuyến hoàn toàn có thể trở thành nơi kết nối; một chiến trường năm xưa có thể trở thành điểm đến của hòa bình; một địa phương ở tuyến đầu của chiến tranh có thể vươn lên thành cửa ngõ giao thương trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, kết nối Việt Nam với Lào, Thái Lan và rộng hơn là khu vực.

Đó cũng là hình ảnh thu nhỏ của hành trình Việt Nam: biến đau thương thành sức mạnh, biến chia cắt thành kết nối, biến khát vọng hòa bình thành khát vọng phát triển.

Tôi tin rằng nguồn lực lớn nhất để Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới vẫn là con người Việt Nam và tinh thần Việt Nam. Dân tộc này đã từng làm được những việc tưởng như không thể khi đất nước đứng trước thử thách sinh tử. Vì vậy, trong hòa bình, nếu chúng ta khơi dậy được tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước, ý chí tự cường và sức sáng tạo ấy, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo nên những kỳ tích mới về phát triển.

Nhưng khát vọng hùng cường không thể chỉ dừng lại ở những mục tiêu kinh tế. Một đất nước thực sự hùng cường phải là một đất nước có nền kinh tế mạnh, thể chế tiến bộ, khoa học - công nghệ phát triển, văn hóa có sức sống, xã hội nhân văn, môi trường được gìn giữ và người dân được thụ hưởng thành quả phát triển một cách công bằng. Cuối cùng, mục tiêu cao nhất của phát triển vẫn phải là con người và hạnh phúc của nhân dân.

Từ mùa thu độc lập năm 1945 đến hôm nay là một hành trình rất dài, nhưng cũng có thể xem là sự tiếp nối của một khát vọng duy nhất: để dân tộc Việt Nam được tự quyết định tương lai của mình và để mỗi người Việt Nam có quyền sống trong một đất nước hòa bình, tự do, giàu mạnh và đáng tự hào.

Thế hệ cha anh đã hoàn thành một sứ mệnh lịch sử vô cùng lớn lao là giành độc lập, thống nhất non sông. Trách nhiệm của thế hệ chúng ta và các thế hệ tiếp nối là phải làm cho đất nước ấy mạnh hơn, giàu hơn, văn minh hơn và có vị thế ngày càng cao hơn trên trường quốc tế.

Nếu năm 1945, khát vọng của dân tộc được cô đọng trong hai chữ “Độc lập”, thì hôm nay, trên nền tảng của độc lập và hòa bình, tôi nghĩ khát vọng ấy đang được viết tiếp bằng hai chữ “Hùng cường”.

Đó không chỉ là ước vọng. Đó phải là trách nhiệm của mỗi thế hệ người Việt Nam đối với những người đã hy sinh cho độc lập hôm qua, với hơn một trăm triệu đồng bào hôm nay và với các thế hệ mai sau.

Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư