Thứ Hai, Ngày 03 tháng 08 năm 2026,
Doanh nghiệp phải căn cứ “lương thực trả” để tính tiền làm thêm giờ
Linh Nguyễn - 03/08/2026 14:54
 
Tiền lương làm căn cứ trả lương làm thêm giờ là tiền lương thực trả của công việc người lao động đang làm. Doanh nghiệp cần đối chiếu tính chất từng khoản thu nhập, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi là lương KPI, phụ cấp hay tiền thưởng.

Bộ Nội vụ vừa trả lời phản ánh của bà N.T.L, nhân viên một doanh nghiệp sản xuất tại Bắc Ninh, liên quan đến cách xác định tiền lương làm căn cứ tính tiền làm thêm giờ và tiền trả thêm khi người lao động làm ban đêm.

Theo phản ánh, doanh nghiệp thỏa thuận với người lao động mức thu nhập tổng cộng khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng. Khoản này được chia thành hai phần, gồm 70% lương chính và 30% lương KPI dựa trên hiệu quả công việc. Khác với phần lương chính được trả ổn định, mức KPI có thể tăng hoặc giảm tùy theo kết quả đánh giá hằng tháng của từng người lao động. Doanh nghiệp đã ký phụ lục hợp đồng lao động, quy định cụ thể mức hưởng tương ứng với các mức xếp loại A, B, C, D.

Từ cách xây dựng thu nhập này, doanh nghiệp đề nghị cơ quan quản lý hướng dẫn khi tính tiền làm thêm giờ và tiền lương làm ban đêm, tiền lương giờ thực trả có bao gồm cả 70% lương chính và phần lương KPI thực tế người lao động được hưởng hay không.

Doanh nghiệp cũng đặt câu hỏi đối với các khoản phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp chức vụ được trả cố định hằng tháng. Cụ thể, các khoản này có được coi là phụ cấp lương, tính vào tiền lương thực trả để làm căn cứ thanh toán tiền làm thêm giờ cho người lao động hay không.

laodongnuocngoai
Ảnh minh hoạ.

Trả lời phản ánh, Bộ Nội vụ dẫn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ.

Theo đó, đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, tiền lương làm căn cứ tính tiền làm thêm giờ là tiền lương thực trả của công việc đang làm trong tháng, tuần hoặc ngày mà người lao động phát sinh thời gian làm thêm.

Quy định này cho thấy, căn cứ tính tiền làm thêm giờ không mặc nhiên chỉ là mức lương chính hoặc mức lương cơ bản ghi trong hợp đồng lao động. Doanh nghiệp phải xác định khoản tiền thực tế được trả cho công việc người lao động đang thực hiện trong kỳ phát sinh làm thêm giờ. Tuy nhiên, không phải toàn bộ thu nhập mà người lao động nhận được đều được đưa vào tiền lương giờ thực trả. Nghị định số 145/2020/NĐ-CP đã liệt kê các khoản không tính vào căn cứ trả lương làm thêm giờ.

Nhóm đầu tiên gồm tiền lương làm thêm giờ; tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm; tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động. Việc loại trừ các khoản này nhằm tránh tình trạng tính trùng phần tiền lương đã được trả thêm do thời gian hoặc điều kiện làm việc đặc biệt.

Tiền thưởng theo Điều 104 Bộ luật Lao động và tiền thưởng sáng kiến cũng không được tính vào tiền lương thực trả làm căn cứ thanh toán tiền làm thêm giờ.

Bên cạnh đó, tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, nhà ở, giữ trẻ, nuôi con nhỏ không thuộc căn cứ tính tiền làm thêm giờ. Các khoản hỗ trợ khi người lao động có thân nhân qua đời, người thân kết hôn, sinh nhật; hỗ trợ liên quan đến bệnh nghề nghiệp cùng những khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không gắn với quá trình thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động cũng được loại trừ.

Đối với trường hợp doanh nghiệp tại Bắc Ninh, Bộ Nội vụ không kết luận chung rằng toàn bộ lương KPI, phụ cấp trách nhiệm hoặc phụ cấp chức vụ đều được tính, hoặc đều không được tính vào tiền lương làm thêm giờ.

Cơ quan đề nghị bà N.T.L căn cứ quy định nêu trên, đồng thời đối chiếu với tính chất của từng khoản tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động để xác định tiền lương giờ thực trả.

Như vậy, tên gọi của khoản thu nhập chưa phải yếu tố duy nhất quyết định. Doanh nghiệp cần xem xét khoản tiền đó có gắn với công việc hoặc chức danh được thỏa thuận trong hợp đồng lao động hay không; được trả thường xuyên hay mang tính hỗ trợ, phúc lợi; là thành phần của tiền lương hay thực chất là tiền thưởng theo kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc.

Đối với khoản KPI, doanh nghiệp cần rà soát nội dung hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, quy chế trả lương và quy chế đánh giá hiệu quả công việc. Trường hợp khoản tiền này là thành phần tiền lương gắn trực tiếp với công việc, được xác định theo kỳ trả lương và không thuộc các khoản bị loại trừ, doanh nghiệp phải xem xét đưa vào tiền lương thực trả theo mức người lao động thực tế được hưởng trong tháng phát sinh làm thêm.

Ngược lại, nếu khoản KPI được xác định là tiền thưởng theo Điều 104 Bộ luật Lao động, không phải thành phần tiền lương của công việc đang làm, khoản này không thuộc căn cứ tính tiền làm thêm giờ.

Tương tự, phụ cấp trách nhiệm và phụ cấp chức vụ không thể được xác định chỉ dựa trên tên gọi. Nếu các khoản này gắn với điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động và được trả như một bộ phận của tiền lương, doanh nghiệp cần đối chiếu đầy đủ để xác định căn cứ tính. Các khoản mang tính hỗ trợ, trợ cấp, phúc lợi và không liên quan đến công việc hoặc chức danh sẽ không được cộng vào tiền lương giờ thực trả.

Bộ Nội vụ lưu ý doanh nghiệp phải căn cứ hồ sơ lao động và bản chất của từng khoản chi trả. Cách phân loại rõ ràng ngay trong hợp đồng, phụ lục hợp đồng và quy chế tiền lương sẽ giúp hạn chế tranh chấp, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người lao động khi làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm.

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Sẽ nghiên cứu chính sách tiền lương cho cả khu vực công và khu vực doanh nghiệp
Trước kiến nghị của công nhân về mức lương đủ sống, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết Chính phủ đang hoàn thiện đề án nâng cao năng suất lao...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư