-
Chứng khoán phiên 3/8: VN-Index khởi động tháng 8 tích cực, tăng hơn 27 điểm -
Ngân hàng vươn lên dẫn đầu thị trường trái phiếu tháng 7 -
Lợi nhuận 4 ngân hàng có vốn Nhà nước tăng mạnh trong nửa đầu năm 2026 -
Quốc Cường Gia Lai thoát lỗ nhờ bán nhà máy thuỷ điện -
So găng big 4 ngân hàng: Vietcombank trả lương cao nhất; Agribank huy động vốn nhiều nhất; BIDV dẫn đầu cho vay -
"Ngôi sao hy vọng" tháng 8 trên thị trường chứng khoán
![]() |
Định giá ngành vẫn đang ở mức thấp
Tính đến ngày 2/6/2026, chỉ số chung ngành ngân hàng tăng 3% so với cuối năm 2025, mức độ tăng tích cực hơn Chỉ số VN-Index. Động lực tăng chủ yếu đến từ nhóm ngân hàng quốc doanh khi nhà đầu tư phản ứng tích cực với Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, sau một năm 2025 diễn biến kém tích cực so với mặt bằng chung của ngành.
Trong khi đó, phần lớn cổ phiếu ngân hàng khác ghi nhận diễn biến giảm hoặc tăng không đáng kể so với cuối năm 2025, trừ một số mã như STB, LPB, MSB nhờ có câu chuyện hỗ trợ riêng.
Nói về định giá cổ phiếu ngân hàng, bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt, chuyên gia cao cấp ngành tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) cho biết, diễn biến cổ phiếu ngân hàng thể hiện quan điểm thận trọng của nhà đầu tư trong bối cảnh dòng tiền trên thị trường còn yếu và bị cạnh tranh bởi tiền gửi tiết kiệm.
Bên cạnh đó, triển vọng tăng trưởng lợi nhuận giảm tốc khi biên lãi ròng (NIM) thu hẹp, tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại và rủi ro nợ xấu gia tăng khi lãi suất thiết lập mặt bằng mới cao hơn cũng là yếu tố khiến nhà đầu tư thận trọng với cổ phiếu ngân hàng, dù hệ số định giá nhóm cổ phiếu ngân hàng đã về mức thấp hơn so với trung bình 10 năm trở lại đây.
Hiện P/B ngành ngân hàng ở mức 1,5x, tiếp tục giảm xuống dưới mức trung bình giai đoạn 2015- 2026 (1,7x), đã tiến đến giá trị trung bình trừ 1 độ lệch chuẩn (1,4x), thể hiện giá ở vùng thấp tương đối. Trong 10 năm trở lại đây, chỉ có 3 khoảng thời gian ngắn định giá ngành xuống thấp hơn vùng này là giai đoạn Covid-19 (tháng 3/2020), sự kiện Vạn Thịnh Phát (tháng 10/2022) và sự kiện thuế quan của Mỹ (tháng 4/2025).
Nhìn vào từng mã cổ phiếu, đa số cổ phiếu ngân hàng đang được giao dịch ở mức P/B tương đương hoặc thấp hơn mức trung bình. Nhóm cổ phiếu Big4 cũng có hệ số định giá sát với trung bình thị trường, so với mức định giá vượt trội thường được ghi nhận trong quá khứ.
Nhiều yếu tố thách thức triển vọng lợi nhuận
Đánh giá về triển vọng ngành, bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt cho biết, Ngân hàng Nhà nước dự kiến điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng một cách thận trọng để đảm bảo kiểm soát ổn định vĩ mô với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn ngành dự báo khoảng 15-16%. Tăng trưởng tín dụng giảm tốc so với năm 2025 do nhu cầu tín dụng bị ảnh hưởng bởi mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao và động lực tăng trưởng truyền thống là bất động sản bị giới hạn.
Trong khi đó, NIM quý I/2026 đã giảm xuống gần mức thấp nhất ghi nhận năm 2014 (2,85%). Diễn biến lợi suất tài sản có sinh lời theo xu hướng tăng cho thấy, ngân hàng đang dịch chuyển chi phí đầu vào sang lãi suất cho vay.
Khả năng mặt bằng định giá toàn ngành ngân hàng được nâng lên trong nửa cuối năm là không lớn, khi NIM vẫn chịu áp lực thu hẹp và chất lượng tài sản có xu hướng suy yếu dần. Vì vậy, hiệu quả đầu tư sẽ phụ thuộc chủ yếu vào khả năng lựa chọn cổ phiếu.
Theo thống kê tại thời điểm cuối quý I/2026, đa số các khoản cho vay khách hàng sẽ được điều chỉnh lãi suất trong thời gian từ 1-6 tháng, hỗ trợ xu hướng cải thiện của lợi suất tài sản có sinh lời. Hạn mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn cũng góp phần định hướng hệ thống ngân hàng tái cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng ưu tiên các sản phẩm có biên sinh lời cao.
Cuối tháng 5/2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục họp với hệ thống ngân hàng thương mại về diễn biến lãi suất huy động, với yêu cầu cao hơn trong việc kiểm soát lãi suất huy động tương ứng hạn mức tăng trưởng tín dụng có thể được cấp phép. Do vậy, Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) kỳ vọng, NIM toàn hệ thống ngân hàng tiếp tục giảm nhẹ trong quý II/2026 và ổn định trong nửa cuối năm 2026. Một số ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn kỳ vọng có NIM mở rộng nhẹ.
Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành thời điểm quý I/2026 là 2,03%, tăng so với mức 1,89% thời điểm cuối năm 2025. Diễn biến nợ xấu thường tăng trong quý I theo yếu tố chu kỳ, sau diễn biến giảm trong quý IV khi các ngân hàng thường có xu hướng sử dụng trích lập dự phòng xóa nợ xấu vào cuối năm.
Tuy nhiên, chất lượng tài sản là vấn đề cần quan tâm trong các quý tới, khi mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng tất yếu sẽ gây áp lực lên khả năng trả nợ của khách hàng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm thấp trong bối cảnh rủi ro nợ xấu tăng khiến chi phí tín dụng có thể tăng nhẹ nhằm cải thiện bộ đệm dự phòng. Ngân hàng có chất lượng tài sản tốt sẽ được đánh giá cao hơn trong giai đoạn này.
Với bối cảnh trên, chuyên gia SHS kỳ vọng, xu hướng định giá ngành ngân hàng trong năm 2026 tiếp tục dao động trong biên độ hẹp quanh mức +/-1 độ lệch chuẩn so với trung bình 10 năm (từ 1,4-2,0 lần) khi triển vọng tăng trưởng lợi nhuận giảm tốc. NIM thu hẹp, tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại và rủi ro nợ xấu gia tăng khi lãi suất thiết lập mặt bằng cao mới là yếu tố khiến nhà đầu tư thận trọng. Dư địa tăng sẽ phụ thuộc vào khả năng cải thiện ROE và kiểm soát nợ xấu hiệu quả trong năm 2026.
Cơ hội chọn lọc trong bối cảnh áp lực ngành
Dù còn nhiều thách thức trong nửa cuối năm 2026, nhưng ngân hàng vẫn là nhóm ngành có nhiều khả năng duy trì tăng trưởng tốt.
Theo phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, thanh khoản trong các quý tới có thể được cải thiện nhờ 4 yếu tố hỗ trợ, bao gồm lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng có thể dần quay lại, hoạt động xuất khẩu có thể phục hồi và từng bước chuyển hóa thành tích lũy tiền gửi VND, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có động lực cơ cấu lại nguồn vốn và động lực từ giải ngân đầu tư công.
SSI điều chỉnh dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng trong nửa cuối năm 2026 lên 17,6%, tăng nhẹ so với mức 17% trước đây. Việc điều chỉnh tăng dự báo chủ yếu mang tính kỹ thuật, phản ánh việc cập nhật mô hình đối với HDBank sau khi nâng tỷ lệ sở hữu tại HDBank Securities (90% từ 30%) và HDSaison (75% từ 50%). Còn dự báo đối với các ngân hàng khác nhìn chung không có thay đổi đáng kể.
Luận điểm đầu tư của năm 2026 đang dịch chuyển theo hướng dựa nhiều hơn vào hiệu quả chi phí và thu nhập phí, thay vì kỳ vọng mở rộng biên lãi ròng. Tăng trưởng tín dụng vẫn là động lực chính về quy mô, nhưng phần tăng thêm của lợi nhuận nhiều khả năng sẽ đến từ sự phục hồi của thu nhập phí và việc kiểm soát tốt chi phí hoạt động, hơn là từ cải thiện NIM. “Đây là điểm then chốt chi phối cách thị trường định giá lại ngành giai đoạn tới”, SSI khẳng định.
Trong bối cảnh 6 tháng cuối năm 2026 đòi hỏi mức độ thận trọng cao hơn, thay vì theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá, SSI khuyến nghị, nhà đầu tư tiếp tục ưu tiên các ngân hàng có nền tảng huy động vững, kỷ luật chi phí đã được kiểm chứng và lợi thế cấu trúc về thu nhập phí hoặc bộ đệm vốn.
Khả năng mặt bằng định giá toàn ngành ngân hàng được nâng lên trong nửa cuối năm là không lớn, khi NIM vẫn chịu áp lực thu hẹp và chất lượng tài sản có xu hướng suy yếu dần. Vì vậy, hiệu quả đầu tư sẽ phụ thuộc chủ yếu vào khả năng lựa chọn cổ phiếu.
Các cổ phiếu lớn vẫn được nhóm phân tích lựa chọn như VCB với nền tảng huy động mạnh nhất hệ thống, khả năng duy trì NIM, bộ đệm dự phòng cao; CTG với chất xúc tác từ diễn biến mở rộng NIM và cải thiện chất lượng tài sản; hay MBB với khả năng cải thiện về nguồn vốn.
Ngoài ra, ở kịch bản tích cực hơn, khi chính sách tài khóa được đẩy nhanh hơn kỳ vọng và thanh khoản hệ thống cải thiện sớm, HDB và VPB là hai cổ phiếu đáng lưu ý. Cả hai đều có độ nhạy cao hơn các ngân hàng khác trong chu kỳ mở rộng tín dụng.
Nhìn chung, SSI cho rằng, với những thách thức trong thời gian tới, nhà đầu tư nên tiếp tục duy trì cách tiếp cận chọn lọc đối với nhóm ngân hàng. Trong bối cảnh đó, SSI ưu tiên các ngân hàng thương mại nhà nước có chất lượng tài sản tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp và bộ đệm dự phòng rủi ro tín dụng vững.
Đồng thời, một số ngân hàng có câu chuyện tăng trưởng hấp dẫn vẫn có thể mang lại cơ hội giao dịch chiến thuật cho nhà đầu tư chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn, dù tỷ trọng phân bổ cần phù hợp với mức độ bất định vẫn còn lớn của quỹ đạo chất lượng tài sản.
-
So găng big 4 ngân hàng: Vietcombank trả lương cao nhất; Agribank huy động vốn nhiều nhất; BIDV dẫn đầu cho vay -
"Ngôi sao hy vọng" tháng 8 trên thị trường chứng khoán -
Giá vàng hôm nay: Vàng bất động, giới phân tích bất đồng, chia làm 3 phe -
Góc nhìn TTCK tuần 3/8-7/8: VN-Index cần thêm sự đồng thuận để củng cố đà hồi phục
-
SACOMBANK lợi nhuận trước thuế đạt 2.030 tỷ đồng, giảm 44,5% do dự phòng tăng cao -
Hội đồng vàng thế giới: Tiền tháo chạy khỏi các quỹ ETF nhưng các ngân hàng trung ương mua vào kỷ lục -
Nới trần tiền gửi Kho bạc lên 50%, big 4 ngân hàng có thêm hàng trăm nghìn tỷ cho vay -
Eximbank có Tổng giám đốc mới là bà Phạm Thị Huyền Trang -
Xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hoá và thị trường tài sản mã hoá -
Ngân hàng chật vật tìm nguồn vốn rẻ -
SACOMBANK phát hành chứng chỉ tiền gửi lãi suất 8,2%/năm
-
Hợp tác môi trường Việt Nam - Hàn Quốc gặt hái thành quả -
Chủ tịch MB: Sẵn sàng mở nguồn lực để cùng tri thức Việt toàn cầu kiến tạo giá trị cho Việt Nam -
Thẻ tín dụng hoàn tiền mở ra giải pháp mới trong quản lý chi tiêu cho người trẻ -
Japfa hỗ trợ 10.000 gà giống, cùng xã Long Hà xây dựng sinh kế bền vững -
SeABank thông báo mời thầu -
LOTTE MART chính thức khai trương siêu thị mới tại Bắc Giang

