Báo Đầu Tư
Chủ Nhật, Ngày 01 tháng 11 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 1/11: Cá thể hóa điều trị, giảm gánh nặng chi phí các cặp vợ chồng hiếm muộn
D.Ngân - 01/11/2026 08:30
  Print
Với hơn một triệu cặp vợ chồng gặp tình trạng vô sinh, hiếm muộn, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu nâng cao hiệu quả điều trị, ứng dụng tiến bộ y học và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản.

Cá thể hóa điều trị, giảm gánh nặng chi phí các cặp vợ chồng hiếm muộn

Tại Hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026 diễn ra ngày 31/10 - 1/11 tại Hà Nội, các chuyên gia cảnh báo vô sinh, hiếm muộn đang trở thành thách thức đáng quan tâm đối với sức khỏe sinh sản và công tác dân số.

Số liệu được chia sẻ tại Hội nghị cho thấy, Việt Nam có hơn một triệu cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, chiếm khoảng 7,7%. Trong đó, vô sinh nguyên phát chiếm 3,9%, vô sinh thứ phát chiếm 3,8%; đáng chú ý, khoảng 50% số cặp vợ chồng gặp khó khăn về sinh sản ở độ tuổi dưới 30.

gstsbs-nguyen-viet-tien-nguyen-thu-truong-bo-y-te-chu-tich-hoi-phu-san-viet-nam--17934407187931589832264

GS-TS.Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam phát biểu. Ảnh: Lê Nga 

Trong khi đó, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với mức 1,91 con năm 2024 nhưng vẫn thấp hơn ngưỡng sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ. Tình trạng mức sinh thấp kéo dài có thể ảnh hưởng đến cơ cấu dân số, nguồn lao động và tăng trưởng kinh tế trong tương lai.

GS-TS.Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam cho rằng, xu hướng kết hôn và sinh con muộn là một trong những nguyên nhân làm gia tăng khó khăn về sinh sản. Tuổi tác ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng noãn ở phụ nữ và có thể tác động đến chất lượng tinh trùng ở nam giới.

Đáng lưu ý, một bộ phận người dân có tâm lý chủ quan, cho rằng sự phát triển của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể khắc phục mọi trở ngại về tuổi tác. Tuy nhiên, tiến bộ y học không thể loại bỏ hoàn toàn những giới hạn sinh học, vì vậy việc chủ động thăm khám, phát hiện nguyên nhân và điều trị sớm có ý nghĩa quan trọng đối với cơ hội thành công.

Các kỹ thuật như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), trữ đông noãn, phôi cùng những tiến bộ trong chẩn đoán đã mở thêm cơ hội cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị phụ thuộc vào tuổi, nguyên nhân vô sinh, tình trạng sức khỏe và khả năng đáp ứng của từng người bệnh.

Còn GS.Eileen Manalo, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản nhấn mạnh, điều trị cần kết hợp các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, lấy người bệnh làm trung tâm. Việc lựa chọn phác đồ phù hợp với từng trường hợp giúp tối ưu hiệu quả, hạn chế can thiệp không cần thiết và giảm áp lực trong quá trình điều trị.

Các chuyên gia cũng cập nhật những tiến bộ trong cá thể hóa kích thích buồng trứng, điều trị vô sinh nam, cải thiện khả năng phôi làm tổ, bảo tồn khả năng sinh sản và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hỗ trợ chẩn đoán, lựa chọn phương án điều trị.

Dù trình độ chuyên môn và kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, chi phí điều trị vẫn là rào cản đối với nhiều gia đình. Quá trình thăm khám, xét nghiệm và thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu có thể kéo dài qua nhiều chu kỳ, tạo áp lực lớn về tài chính và tâm lý.

Trước thực tế này, GS-TS.Nguyễn Viết Tiến đề xuất nghiên cứu chính sách hỗ trợ một phần chi phí thăm khám, xét nghiệm ban đầu hoặc chi phí của chu kỳ điều trị đầu tiên, qua đó giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn có thêm điều kiện tiếp cận dịch vụ.

Trong bối cảnh mức sinh thấp đang đặt ra nhiều thách thức, việc kết hợp tiến bộ y học với chính sách hỗ trợ phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản, giảm gánh nặng cho người bệnh và mở rộng cơ hội làm cha mẹ cho các gia đình hiếm muộn.

Ho nhiều về đêm, người đàn ông phát hiện ung thư phổi giai đoạn sớm

Bệnh nhân L.V.Đ. (75 tuổi, Hà Nội) đến khám tại MEDLATEC do ho kéo dài, khạc đờm trắng, đặc biệt nhiều về đêm. Qua thăm khám lâm sàng, các bác sỹ không ghi nhận bất thường đáng kể, phổi thông khí đều hai bên, không có ran, không sờ thấy hạch ngoại vi.

Tuy nhiên, kết quả chụp CT độ phân giải cao phát hiện một nốt kính mờ tại thùy trên phổi phải, kích thước khoảng 11 × 14 mm. Ngoài ra, hai phổi có một số nốt đặc nhỏ rải rác, kích thước lớn nhất 4 mm và các dải xơ được đánh giá là tổn thương cũ.

BSCKI.Hoàng Bích Lương, Trung tâm Giải phẫu bệnh MEDLATEC cho biết, người bệnh từng hút thuốc lá với số lượng ít nhưng đã bỏ hơn 15 năm. Nốt kính mờ trên phim chụp có thể liên quan đến tình trạng viêm nhiễm hoặc bệnh lý u, vì vậy cần được đánh giá kỹ để xác định bản chất tổn thương.

Đáng chú ý, tổn thương có kích thước nhỏ, ít thay đổi trong thời gian ngắn vẫn có thể tiềm ẩn nguy cơ ác tính. Nhiều trường hợp ung thư phổi phát triển âm thầm, chưa xuất hiện triệu chứng điển hình nên dễ bị bỏ sót.

Để làm rõ nguyên nhân, người bệnh được chỉ định sinh thiết phổi. Kết quả giải phẫu bệnh xác định ung thư biểu mô tuyến phổi, với đặc điểm tế bào bất thường phát triển dọc theo thành các phế nang.

Sau chẩn đoán ban đầu tại MEDLATEC, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Phổi Trung ương để tiếp tục điều trị. Các bác sỹ đã tiến hành phẫu thuật cắt một phần phổi phải. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ xác định ung thư ở giai đoạn IA2, chưa ghi nhận di căn hạch vùng, di căn xa hoặc xâm nhập màng phổi tạng.

Nhờ phát hiện và can thiệp ở giai đoạn sớm, người bệnh hồi phục nhanh, sức khỏe ổn định, tinh thần lạc quan. Với tình trạng bệnh cụ thể, bệnh nhân chưa cần thực hiện các biện pháp điều trị bổ trợ như hóa trị hoặc xạ trị.

Ung thư phổi hiện là nguyên nhân gây tử vong do ung thư hàng đầu thế giới. Số liệu GLOBOCAN 2022 ghi nhận khoảng 2,5 triệu ca mắc mới và 1,8 triệu ca tử vong trên toàn cầu, đứng đầu cả về số ca mắc và tử vong trong các loại ung thư.

Tại Việt Nam, năm 2022 ghi nhận 24.426 ca ung thư phổi mới mắc, đứng thứ ba trong các bệnh ung thư phổ biến, cùng 22.597 trường hợp tử vong, xếp thứ hai về số ca tử vong do ung thư.

Một trong những thách thức lớn nhất là bệnh ở giai đoạn đầu thường không có biểu hiện rõ ràng. Các triệu chứng như ho kéo dài, khạc đờm, đau ngực hoặc khó thở dễ bị nhầm lẫn với bệnh hô hấp thông thường, khiến nhiều người chủ quan, chậm thăm khám.

BSCKI. Hoàng Bích Lương cho biết, cơ hội điều trị ung thư phổi phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện bệnh. Với ung thư phổi không tế bào nhỏ được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, khả năng điều trị thành công và tiên lượng sống cao hơn đáng kể so với giai đoạn đã di căn xa.

Các chuyên gia khuyến cáo, người có triệu chứng hô hấp kéo dài, đặc biệt là ho dai dẳng không rõ nguyên nhân, cần thăm khám để được đánh giá phù hợp. Những người có nguy cơ cao như hút thuốc lá lâu năm, thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại hoặc có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi cũng cần chú trọng kiểm tra sức khỏe và tư vấn về tầm soát bệnh.

Bốn công nghệ hiện đại mở thêm cơ hội điều trị ung thư di căn não

Sự kết hợp của bốn công nghệ hiện đại trong phẫu thuật thần kinh đang giúp bác sỹ xác định chính xác vị trí khối u, hạn chế tổn thương mô não lành, giảm nguy cơ biến chứng và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh ung thư di căn não.

Ths.Lê Văn Ngân, chuyên khoa ngoại thần kinh - cột sống cho biết, những tiến bộ trong phẫu thuật thần kinh đang mở rộng cơ hội điều trị cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn có di căn não.

Trước đây, nhiều trường hợp chủ yếu được điều trị giảm nhẹ do khối u chèn ép các vùng chức năng quan trọng, gây yếu liệt, mất ngôn ngữ hoặc suy giảm nghiêm trọng chất lượng sống. Hiện nay, sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại cho phép bác sỹ cân nhắc phẫu thuật loại bỏ khối u ở những trường hợp phù hợp, đồng thời bảo tồn tối đa chức năng thần kinh.

Bác sỹ Ngân đã báo cáo một số trường hợp ung thư di căn não được phẫu thuật thành công nhờ ứng dụng đồng bộ các công nghệ tiên tiến. Điển hình là bệnh nhân nam 67 tuổi, mắc ung thư phổi giai đoạn cuối di căn não, có khối u kích thước 22 x 27 x 31 mm tại thùy trán phải, gây chèn ép và yếu liệt một bên cơ thể. Sau khi đánh giá tình trạng bệnh, các bác sỹ quyết định phẫu thuật với sự hỗ trợ liên hoàn của bốn công nghệ hiện đại.

Đầu tiên là hệ thống cộng hưởng từ MRI 3.0 Tesla kết hợp kỹ thuật dựng hình bó sợi thần kinh (DTI), giúp tái tạo hình ảnh ba chiều các đường dẫn truyền thần kinh xung quanh khối u. Nhờ đó, bác sỹ có thể đánh giá mối liên quan giữa tổn thương và các vùng não đảm nhiệm chức năng vận động, ngôn ngữ, thị giác, từ đó xây dựng phương án tiếp cận phù hợp.

Dữ liệu hình ảnh tiếp tục được tích hợp vào hệ thống định vị thần kinh Neuro-Navigation, hoạt động tương tự thiết bị dẫn đường trong phẫu thuật. Công nghệ này giúp xác định vị trí khối u, định hướng đường mổ và theo dõi vị trí dụng cụ phẫu thuật so với các cấu trúc thần kinh quan trọng, góp phần giảm mức độ xâm lấn.

Trong quá trình phẫu thuật, hệ thống giám sát điện sinh lý thần kinh (IONM) liên tục theo dõi tín hiệu hoạt động của các đường dẫn truyền thần kinh. Những thay đổi bất thường được phát hiện và cảnh báo để bác sỹ kịp thời điều chỉnh thao tác, hạn chế nguy cơ tổn thương các vùng não chức năng.

Công nghệ thứ tư là kính vi phẫu tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), cho phép phóng đại trường mổ từ 4 đến 20 lần, hỗ trợ quan sát các cấu trúc mạch máu, dây thần kinh và mô tổn thương. Hệ thống còn hỗ trợ đánh giá tuần hoàn máu và hiển thị hình ảnh khối u, giúp phẫu thuật viên thao tác chính xác trong không gian hẹp.

Nhờ phối hợp các công nghệ, ê-kíp phẫu thuật đã loại bỏ khối u di căn não cho người bệnh 67 tuổi. Sau mổ 7 ngày, bệnh nhân hồi phục tốt, không ghi nhận biến chứng và được xuất viện. Tình trạng yếu liệt nửa người bên trái cải thiện đáng kể, giúp người bệnh có thể tự chăm sóc bản thân.

Sau ba tháng, bệnh nhân tiếp tục điều trị ung thư bằng thuốc nhắm trúng đích thế hệ mới, sức khỏe ổn định và chất lượng cuộc sống được cải thiện.

Bác sỹ Ngân cho biết, ngoài trường hợp trên, bệnh viện đã thực hiện phẫu thuật cho nhiều bệnh nhân có khối u di căn não từ ung thư phổi, ung thư đại trực tràng và ung thư vú giai đoạn muộn. Tuy nhiên, chỉ định phẫu thuật cần dựa trên vị trí, số lượng khối u, tình trạng toàn thân và khả năng tiếp tục điều trị ung thư sau can thiệp.

Các chuyên gia nhận định, phẫu thuật thần kinh hiện đại đang chuyển mạnh theo hướng ít xâm lấn, nâng cao độ chính xác và bảo tồn chức năng cho người bệnh. Việc kết hợp đồng bộ công nghệ chẩn đoán hình ảnh, định vị, giám sát thần kinh và vi phẫu giúp nâng cao hiệu quả can thiệp, tạo thêm lựa chọn điều trị cho những bệnh nhân ung thư di căn não từng có tiên lượng hạn chế.

Dù vậy, phẫu thuật chỉ là một phần trong chiến lược điều trị ung thư đa mô thức. Việc phối hợp với các phương pháp điều trị toàn thân, đặc biệt là thuốc nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch ở những bệnh nhân có chỉ định, đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát bệnh, kéo dài thời gian sống và duy trì chất lượng cuộc sống.

Cần mở rộng thanh toán bảo hiểm y tế cho điều trị vô sinh, hiếm muộn
Cần mở rộng thanh toán bảo hiểm y tế cho điều trị vô sinh, hiếm muộn
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp vô sinh - hiếm muộn là một trong ba vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nhất thế kỷ 21, chỉ đứng sau ung thư và tim...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư