-
“Kiêng” đi viện đầu năm, cái giá không hề nhỏ -
Siết an toàn thực phẩm nhưng phải thông suốt thương mại từ 16/4 -
Vinmec khai trương bệnh viện thứ 10, tiên phong mô hình y tế tích hợp tại Ocean Park 2 -
Tin mới y tế ngày 1/3: 6 triệu người Việt sống chung với bệnh hiếm -
Cả nhà nhập viện vì cúm mùa sau Tết
Nấm tấn công phổi gây tràn dịch, cảnh báo nguy cơ nhiễm trùng
Khó thở, tức ngực kéo dài kèm sốt, ông Tỉnh 75 tuổi tại TP.HCM nhập viện trong tình trạng tràn dịch màng phổi hai bên. Kết quả xét nghiệm sau đó xác định tác nhân gây bệnh là nấm Aspergillus, một loại nấm mốc phổ biến trong môi trường tự nhiên nhưng có thể gây tổn thương phổi nghiêm trọng nếu xâm nhập và phát triển.
![]() |
| Ảnh minh họa. |
Theo lời tự sự của bệnh nhân, ông có tiền sử hút thuốc hơn 50 năm, dù đã cai được 8 tháng và không mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay lao phổi. Theo TS.Trần Minh Giang, người trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân cho hay, tràn dịch màng phổi khiến phổi không thể nở ra bình thường khi hít thở, gây khó thở và giảm trao đổi oxy.
Hình ảnh CT ghi nhận tràn dịch màng phổi phải kèm xẹp nhu mô phổi. Người bệnh được chuyển đến viện để chọc dẫn lưu dịch nhằm giải phóng khoang màng phổi, tạo điều kiện cho phổi giãn nở trở lại. Xét nghiệm máu cho thấy chỉ số viêm tăng cao, gợi ý phản ứng nhiễm trùng.
Sau hai tuần điều trị ban đầu, tình trạng khó thở giảm nhưng đáp ứng chưa rõ rệt. Trước nghi ngờ nhiễm nấm do yếu tố môi trường sống, bác sỹ điều chỉnh phác đồ, tăng liều kháng sinh và bổ sung thuốc kháng nấm.
Ông Tỉnh sống ở khu vực trồng nông sản, nhiều kho bãi, nơi dễ tồn tại bào tử nấm trong không khí và bụi. Sau điều chỉnh điều trị, lượng dịch màng phổi giảm rõ, triệu chứng cải thiện.
Xét nghiệm xác định tác nhân là nấm Aspergillus, loại nấm thường có trong đất, rơm rạ mục, ngũ cốc bảo quản lâu ngày và bụi không khí.
Ở người có sức đề kháng suy giảm hoặc tổn thương phổi sẵn có, bào tử nấm có thể xâm nhập sâu vào đường hô hấp, gây viêm phổi do nấm hoặc hình thành ổ nhiễm trùng lan rộng. Trường hợp nặng, nấm có thể xâm lấn mạch máu, gây chảy máu phổi, suy hô hấp hoặc lan tới não, tim, thận.
Sau 6 tuần điều trị phối hợp kháng sinh và kháng nấm, tình trạng tràn dịch màng phổi của ông Tỉnh được kiểm soát, phổi thông khí tốt, không còn ứ dịch.
Theo bác sỹ Giang, nhiễm nấm phổi thường diễn tiến âm thầm, biểu hiện dễ nhầm với viêm phổi thông thường nên có thể bị bỏ sót ở giai đoạn đầu. Các nghiên cứu y học cho thấy tỷ lệ tử vong của nhiễm Aspergillus xâm lấn có thể cao nếu chẩn đoán và điều trị muộn, đặc biệt ở người cao tuổi hoặc có bệnh nền hô hấp.
Những người mắc COPD, giãn phế quản, có tiền sử lao phổi hoặc thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều bụi, ẩm mốc cần chủ động phòng ngừa bằng cách đeo khẩu trang và giữ môi trường sống thông thoáng. Việc tự ý sử dụng kháng sinh hoặc corticoid khi chưa có chỉ định có thể làm che lấp triệu chứng hoặc suy giảm miễn dịch, tạo điều kiện cho nấm phát triển mạnh hơn.
Ho, khó thở kéo dài, sốt không rõ nguyên nhân hoặc điều trị viêm phổi thông thường không đáp ứng là những dấu hiệu cần được thăm khám chuyên khoa sớm. Phát hiện và điều trị đúng nguyên nhân là yếu tố quyết định để tránh biến chứng nặng nề do nhiễm nấm phổi.
Dấu hiệu cảnh báo gan nhiễm mỡ không được xem nhẹ
Cảm giác nặng tức nhẹ vùng hạ sườn phải, mệt mỏi kéo dài không rõ nguyên nhân hay men gan tăng bất thường đôi khi chỉ được xem là rối loạn tiêu hóa thoáng qua. Tuy nhiên, đó có thể là những tín hiệu sớm của gan nhiễm mỡ không do rượu, một bệnh lý đang gia tăng nhanh cùng với xu hướng béo phì và rối loạn chuyển hóa.
Gan nhiễm mỡ không do rượu, hay NAFLD, là tình trạng mỡ tích tụ trong tế bào gan ở người không uống hoặc uống rất ít rượu. Bệnh thường diễn tiến âm thầm, không gây triệu chứng rõ rệt ở giai đoạn đầu. Chính sự im lặng này khiến nhiều người chỉ phát hiện khi đã xuất hiện viêm gan nhiễm mỡ, xơ hóa hoặc tổn thương gan đáng kể.
Về mặt cơ chế, NAFLD liên quan chặt chẽ đến hội chứng chuyển hóa. Khi cơ thể kháng insulin, rối loạn mỡ máu hoặc thừa năng lượng kéo dài, gan trở thành nơi tích tụ mỡ dư thừa.
Theo các nghiên cứu dịch tễ, tỷ lệ NAFLD ở người đái tháo đường type 2 có thể lên tới hơn một nửa. Béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và lối sống ít vận động đều là những yếu tố nguy cơ quan trọng.
Ở giai đoạn sớm, biểu hiện thường mơ hồ. Mệt mỏi kéo dài là triệu chứng có thể gặp nhưng dễ bị bỏ qua vì không đặc hiệu. Cảm giác tức hoặc đau âm ỉ vùng hạ sườn phải có thể xuất hiện khi gan to nhẹ hoặc có phản ứng viêm, song thường bị nhầm với đầy bụng hay căng cơ.
Một số người có các mảng da sẫm màu, dày lên ở cổ hoặc nách do kháng insulin, dấu hiệu chuyển hóa có liên quan trực tiếp đến cơ chế hình thành gan nhiễm mỡ.
Khi bệnh tiến triển, buồn nôn, chán ăn hoặc rối loạn tiêu hóa có thể xuất hiện do chức năng gan suy giảm. Men gan tăng cao trong xét nghiệm máu là một chỉ điểm thường gặp, nhưng không phải lúc nào cũng hiện diện. Điều này đồng nghĩa với việc một kết quả men gan bình thường không loại trừ hoàn toàn nguy cơ.
Nếu không được kiểm soát, gan nhiễm mỡ không do rượu có thể tiến triển thành viêm gan nhiễm mỡ, xơ gan và làm tăng nguy cơ ung thư gan.
Các dấu hiệu của xơ gan như vàng da, ngứa, chảy máu, giảm khả năng tập trung hay phù chân thường chỉ xuất hiện khi tổn thương đã nặng.
Ở nhiều quốc gia, NAFLD đang trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ghép gan, phản ánh xu hướng chuyển dịch gánh nặng bệnh tật từ bệnh truyền nhiễm sang bệnh chuyển hóa.
Điều đáng chú ý là bệnh không còn giới hạn ở người trung niên. Tỷ lệ gan nhiễm mỡ đang tăng ở người trẻ do chế độ ăn nhiều năng lượng, tiêu thụ thực phẩm chế biến sẵn và thiếu vận động. Đây không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là thách thức sức khỏe cộng đồng trong bối cảnh đô thị hóa và thay đổi lối sống.
Gan là cơ quan có khả năng phục hồi đáng kể nếu được can thiệp sớm. Thay đổi chế độ ăn, giảm cân hợp lý, tăng vận động và kiểm soát tốt đường huyết, mỡ máu, huyết áp có thể giúp cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ ở giai đoạn đầu.
Vì vậy, những dấu hiệu tưởng chừng nhẹ như mệt mỏi kéo dài hay tức vùng hạ sườn phải, đặc biệt ở người có yếu tố nguy cơ, không nên bị xem nhẹ. Nhận diện sớm và hành động kịp thời là cách duy nhất để ngăn chặn một căn bệnh âm thầm nhưng có thể để lại hậu quả lâu dài.
Nhận diện sớm nhồi máu cơ tim cấp
Theo Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có khoảng 17,5 triệu người trên toàn cầu tử vong do bệnh tim mạch. Nhồi máu cơ tim cấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu, với nguy cơ tử vong có thể lên tới 50% nếu không được xử trí kịp thời.
Tại Việt Nam, bệnh tim mạch chiếm khoảng 39,5% tổng số ca tử vong, cho thấy đây không còn là bệnh của riêng người cao tuổi mà đã trở thành thách thức sức khỏe cộng đồng.
Nhồi máu cơ tim cấp xảy ra khi một nhánh động mạch vành bị tắc nghẽn đột ngột, làm gián đoạn dòng máu nuôi cơ tim. Khi thiếu oxy, tế bào cơ tim bắt đầu hoại tử chỉ sau vài chục phút.
Các nghiên cứu tim mạch chỉ ra rằng trong mỗi phút chậm trễ tái thông mạch vành, hàng triệu tế bào cơ tim có thể mất đi vĩnh viễn. Vì vậy, nguyên tắc điều trị được giới chuyên môn nhấn mạnh là “thời gian là cơ tim”.
Dấu hiệu điển hình nhất của nhồi máu cơ tim cấp là cơn đau thắt ngực dữ dội. Người bệnh thường mô tả cảm giác bóp nghẹt, đè nặng sau xương ức, có thể lan lên vai trái, cánh tay trái, cổ, hàm hoặc ra sau lưng.
Cơn đau kéo dài trên 20 phút, không giảm khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc giãn mạch thông thường. Kèm theo đó có thể là vã mồ hôi lạnh, khó thở, buồn nôn, choáng váng hoặc ngất.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng biểu hiện điển hình. Ở người cao tuổi, phụ nữ hoặc người mắc đái tháo đường, triệu chứng có thể mờ nhạt hơn.
Người bệnh chỉ cảm thấy mệt bất thường, khó thở tăng dần hoặc đau vùng thượng vị dễ nhầm với bệnh dạ dày. Chính sự không điển hình này khiến nhiều người chủ quan, bỏ lỡ “thời gian vàng” để can thiệp.
Các yếu tố nguy cơ của nhồi máu cơ tim đã được chứng minh rõ ràng qua nhiều nghiên cứu: tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, thừa cân, ít vận động và căng thẳng kéo dài. Khi mảng xơ vữa trong động mạch vành vỡ ra, cục máu đông hình thành nhanh chóng, gây tắc mạch cấp tính. Quá trình này có thể xảy ra đột ngột ngay cả ở người trước đó chưa từng có triệu chứng rõ ràng.
Việc phòng ngừa vì thế mang ý nghĩa chiến lược. Kiểm soát tốt huyết áp, đường huyết và mỡ máu, duy trì cân nặng hợp lý, bỏ thuốc lá, vận động thường xuyên và giảm stress là những biện pháp đã được chứng minh giúp giảm đáng kể nguy cơ biến cố tim mạch. Khám sức khỏe định kỳ giúp phát hiện sớm xơ vữa động mạch và can thiệp trước khi xảy ra biến chứng.
Khi xuất hiện cơn đau ngực nghi ngờ nhồi máu cơ tim, người bệnh cần gọi cấp cứu ngay lập tức và không tự lái xe đến bệnh viện. Việc chần chừ chờ cơn đau tự hết có thể khiến vùng cơ tim hoại tử lan rộng, dẫn tới suy tim mạn tính hoặc đột tử. Tái thông mạch vành càng sớm, cơ hội bảo tồn chức năng tim càng cao.
Nhồi máu cơ tim không phải biến cố bất ngờ hoàn toàn. Phần lớn trường hợp là kết quả của quá trình tích lũy yếu tố nguy cơ trong nhiều năm. Nhận diện sớm dấu hiệu cảnh báo và hành động kịp thời chính là cách giành lại từng phút quý giá cho sự sống và hạn chế di chứng lâu dài.
-
Tin mới y tế ngày 2/3: Tràn dịch màng phổi do nấm, mối nguy từ môi trường sống -
Cả nhà nhập viện vì cúm mùa sau Tết -
Phòng chống bệnh lý hô hấp khi thời tiết giao mùa Đông- Xuân -
Tin mới y tế ngày 28/2: Y tế gia đình - Mảnh ghép còn thiếu trong hệ thống chăm sóc sức khỏe -
Cúm mùa gia tăng, đừng chờ biến chứng mới đi tiêm -
Bộ Y tế đề xuất cấm trưng bày thuốc lá dưới mọi hình thức -
BSCKII. Nguyễn Đình Tuấn: Giúp bệnh nhân phục hồi các chức năng thần kinh, đó là niềm hạnh phúc rất đặc biệt
-
ROX Group - Ba thập kỷ kiến tạo thuận ích, đưa giá trị Việt vươn xa -
Xổ số kiến thiết miền Nam đặt mục tiêu doanh thu gần 173 ngàn tỷ đồng trong năm 2026 -
INTECH E&C vinh dự đồng hành triển khai nhà máy kiểm thử và đóng gói chip bán dẫn đầu tiên do người Việt làm chủ -
VietinBank năm 2025: Cải thiện hiệu quả, tăng trưởng bền vững -
EVNGENCO1 bứt phá trong thách thức -
Mảnh ghép cuối cùng của lõi CBD Sài Gòn: One Central Saigon và câu chuyện tái định vị trung tâm Quận 1

