-
Giọt nước mắt tiễn biệt và những mầm sống được hồi sinh -
Hoàn thiện khung pháp lý phòng, chống tác hại thuốc lá trong bối cảnh mới -
Xử lý vướng mắc Nghị định 46 về an toàn thực phẩm, thành lập tổ công tác liên ngành -
Sắp xếp lại hệ thống y tế công lập, Bộ Y tế sẽ quản lý 25 bệnh viện đầu ngành -
Tin mới y tế ngày 22/3: Chuyên gia cảnh báo thói quen gây 90% ca ung thư phổi tại Việt Nam
Không để dịch viêm màng não mô cầu lan rộng trong cộng đồng
Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết đã có văn bản gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố về việc triển khai các biện pháp phòng, chống bệnh viêm màng não mô cầu.
![]() |
| Sở Y tế các tỉnh, thành phố được yêu cầu khẩn trương tăng cường giám sát, phát hiện ca bệnh, xử lý ổ dịch và đẩy mạnh truyền thông nhằm ngăn chặn nguy cơ lây lan viêm màng não mô cầu trong cộng đồng. |
Theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ đầu năm 2026 đến nay, Việt Nam đã ghi nhận các trường hợp mắc bệnh tại Hà Nội, Hà Tĩnh và Lào Cai. Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây qua đường hô hấp, diễn biến nhanh và có tỷ lệ tử vong cao nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Trong bối cảnh thời tiết Xuân - Hè cùng với nhu cầu đi lại, giao lưu, tụ tập đông người gia tăng mùa lễ hội năm 2026, nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng được đánh giá ở mức cao.
Để chủ động kiểm soát và hạn chế tối đa số ca mắc, tử vong, Cục Phòng bệnh đề nghị các địa phương khẩn trương chỉ đạo các đơn vị y tế tăng cường giám sát, phát hiện sớm ca bệnh tại cơ sở khám, chữa bệnh; đồng thời tiến hành điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm, triển khai điều trị dự phòng và theo dõi chặt chẽ sức khỏe các trường hợp tiếp xúc gần với người mắc bệnh.
Bên cạnh đó, các địa phương cần kịp thời xử lý ổ dịch theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế; tổ chức tốt công tác thu dung, chẩn đoán sớm, cách ly và điều trị tích cực, nhằm hạn chế tối đa các trường hợp biến chứng nặng và tử vong.
Công tác truyền thông cũng được nhấn mạnh, tập trung vào việc cung cấp thông tin về triệu chứng nghi ngờ, biện pháp phòng bệnh và cách hạn chế lây lan. Người dân được khuyến cáo khi có dấu hiệu nghi ngờ cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.
Đối với người chăm sóc bệnh nhân tại cơ sở y tế, cần thực hiện nghiêm các biện pháp phòng lây nhiễm như đeo khẩu trang thường xuyên, rửa tay bằng xà phòng, súc miệng, họng bằng dung dịch sát khuẩn thông thường.
Ngoài ra, các địa phương cần tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ y tế về giám sát, phát hiện, điều tra ca bệnh; hướng dẫn xử lý ổ dịch; đồng thời tăng cường năng lực chẩn đoán, cấp cứu, hồi sức tích cực. Việc báo cáo ca bệnh và ổ dịch phải thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ Y tế.
Đáng chú ý, ngày 18/3, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh An Giang cho biết, tại đặc khu Phú Quốc đã ghi nhận một trường hợp nghi ngờ mắc viêm não mô cầu liên quan đến nhà trọ và trường học, tiềm ẩn nguy cơ lây lan thứ phát trong cộng đồng.
Trước tình hình này, CDC tỉnh An Giang đã đề nghị UBND đặc khu Phú Quốc, Trung tâm Y tế Phú Quốc và các trạm y tế trên địa bàn tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch. Trong đó, tập trung quản lý người tiếp xúc gần, xử lý môi trường ổ dịch, tăng cường giám sát tại cơ sở y tế và trong cộng đồng, đặc biệt tại trường học; đồng thời đẩy mạnh xét nghiệm và truyền thông phòng bệnh.
Phần lớn ca ung thư gan phát sinh trên nền viêm gan B, C, xơ gan và gan nhiễm mỡ
Ung thư gan vẫn là một trong những thách thức y tế nghiêm trọng tại Việt Nam khi số ca tử vong gần tương đương số ca mắc mới. Các chuyên gia nhấn mạnh, phát hiện sớm và kiểm soát yếu tố nguy cơ là chìa khóa để cải thiện tiên lượng bệnh.
Tại tọa đàm về chính sách kiểm soát ung thư gan, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn cho biết, ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là một trong những vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng nhất hiện nay tại Việt Nam. Đáng lo ngại, khoảng cách giữa chẩn đoán và tử vong rất ngắn, phản ánh tiên lượng bệnh khắc nghiệt và những hạn chế trong phát hiện sớm.
Theo số liệu thống kê, mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 24.000 ca mắc mới và hơn 23.000 ca tử vong do ung thư gan, tỷ lệ gần tương đương, cho thấy hiệu quả kiểm soát bệnh còn hạn chế và cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận chính sách.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn nhấn mạnh, ung thư gan không phải là bệnh đơn lẻ mà gắn với toàn bộ chuỗi chăm sóc y tế, từ dự phòng, quản lý nguy cơ đến phát hiện sớm và điều trị. Phần lớn các ca bệnh phát sinh trên nền viêm gan B, viêm gan C, xơ gan và gan nhiễm mỡ. Vì vậy, nếu chỉ can thiệp ở giai đoạn điều trị là đã bỏ lỡ cơ hội sống của người bệnh.
Từ thực tế này, Bộ Y tế định hướng phát hiện sớm phải trở thành nền tảng của chiến lược kiểm soát ung thư gan. Các chính sách trọng tâm bao gồm xây dựng hệ thống giám sát nhóm nguy cơ cao, thực hiện tầm soát định kỳ bằng siêu âm và xét nghiệm.
Đồng thời chuẩn hóa hướng dẫn chuyên môn và tăng cường phối hợp liên chuyên khoa; bảo đảm tiếp cận công bằng với các phương pháp điều trị hiện đại như liệu pháp miễn dịch và thuốc nhắm trúng đích; đồng thời hoàn thiện cơ chế tài chính, mở rộng chi trả cho chẩn đoán, theo dõi và điều trị.
Ba ưu tiên hành động cũng được đưa ra, gồm: xây dựng khung giám sát ung thư gan cho nhóm nguy cơ cao; chuẩn hóa quy trình chẩn đoán, điều trị và phối hợp hệ thống; nghiên cứu cơ chế tài chính bền vững, đặc biệt liên quan đến bảo hiểm y tế.
Ở góc độ chuyên môn, TS.Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có gánh nặng ung thư gan cao trên thế giới.
Nguyên nhân chủ yếu vẫn là nhiễm viêm gan virus, trong đó tỷ lệ nhiễm viêm gan B (HBV) khoảng 7,2%, còn viêm gan C (HCV) dao động từ 1,0-1,8%. Ngoài ra, gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa đang nổi lên như một yếu tố nguy cơ mới.
Một thực tế đáng lo ngại là phần lớn bệnh nhân ung thư gan tại Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn muộn. Hơn một nửa số ca đến viện khi bệnh đã tiến triển hoặc ở giai đoạn cuối, khiến khả năng điều trị triệt căn rất hạn chế.
Theo PGS-TS.Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, chỉ khoảng 30-35% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Khi đã xuất hiện triệu chứng rõ ràng, thời gian sống trung vị của người bệnh thường dưới 1 năm.
Các chuyên gia nhận định, hiệu quả điều trị phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện. Nếu được phát hiện sớm, bệnh nhân có thể được can thiệp bằng phẫu thuật, đốt u hoặc các phương pháp khác với kết quả khả quan. Ngược lại, ở giai đoạn muộn, lựa chọn điều trị hạn chế, chi phí cao và tiên lượng sống thấp.
Tọa đàm cũng chỉ ra hàng loạt khó khăn trong kiểm soát ung thư gan. Công tác giám sát và sàng lọc nhóm nguy cơ cao còn hạn chế, chưa đồng đều giữa các địa phương. Dù đã có khuyến cáo tầm soát định kỳ đối với người nhiễm viêm gan B, C hoặc xơ gan, việc triển khai trên thực tế vẫn chưa rộng khắp.
Ngoài ra, nhiều cơ sở y tế còn thiếu trang thiết bị, nhân lực chuyên môn, trong khi chất lượng xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh chưa đồng đều.
Một rào cản lớn khác là cơ chế tài chính. Nhiều đại biểu cho rằng bảo hiểm y tế hiện chưa bao phủ đầy đủ các dịch vụ sàng lọc, theo dõi và thuốc điều trị mới. Một số xét nghiệm quan trọng như AFP chưa được chi trả đầy đủ, trong khi các thuốc điều trị đích, miễn dịch còn khó tiếp cận do chi phí cao.
Các chuyên gia nhấn mạnh, gốc rễ của bài toán ung thư gan nằm ở kiểm soát yếu tố nguy cơ. GS-TS.Nguyễn Văn Kính cho biết khoảng 90% trường hợp ung thư gan có liên quan đến viêm gan B và C. Do đó, phát hiện sớm, quản lý và điều trị hiệu quả viêm gan virus cần được coi là giải pháp cốt lõi.
Cùng với đó là tăng cường truyền thông thay đổi hành vi, giảm kỳ thị đối với người mắc viêm gan, nâng cao nhận thức cộng đồng về tiêm vắc-xin viêm gan B, khám định kỳ và tầm soát ở nhóm nguy cơ cao.
Nhiều ý kiến cũng đề xuất xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống viêm gan và ung thư gan, nhằm tạo khung hành động thống nhất trên toàn quốc. Đồng thời, cần nâng cao năng lực chẩn đoán tại tuyến tỉnh, xây dựng lộ trình chuyển tuyến rõ ràng và hoàn thiện cơ chế chi trả để người bệnh được tiếp cận dịch vụ y tế công bằng hơn.
Theo đại diện Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong dài hạn cần chuyển trọng tâm từ “chi cho điều trị” sang “đầu tư cho phòng bệnh và phát hiện sớm”. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu sức khỏe cá nhân và theo dõi liên tục từ cộng đồng đến cơ sở y tế sẽ là nền tảng quan trọng cho hoạch định chính sách bền vững.
Tự ý bỏ thuốc điều trị đái tháo đường, người phụ nữ suýt mất mạng vì biến chứng
Tin vào quảng cáo “chữa khỏi hoàn toàn” bằng thuốc nam, một nữ bệnh nhân tại Hà Nội đã tự ý ngừng điều trị trong suốt 3 năm. Hậu quả, người bệnh nhập viện trong tình trạng nguy kịch với hôn mê nhiễm toan ceton, suy hô hấp và viêm phổi do cúm A.
Thông tin từ Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho biết đang điều trị cho một nữ bệnh nhân trong tình trạng nặng tại Khoa Điều trị tích cực. Bệnh nhân N.T.T (45 tuổi, Long Biên, Hà Nội) nhập viện cấp cứu trong tình trạng suy kiệt, gầy mòn, ho nhiều, khó thở và khạc đờm xanh.
Thạc sỹ, bác sỹ Nguyễn Đăng Quân, Phó Trưởng khoa Điều trị tích cực cho biết, trước khi nhập viện, người bệnh có nhiều dấu hiệu bất thường như sụt 5kg trong thời gian ngắn, khô miệng, khát nước nhiều và mệt mỏi kéo dài.
Kết quả xét nghiệm cho thấy chỉ số đường huyết của bệnh nhân lên tới 22,5 mmol/l, HbA1c 11,8%, biểu hiện của tình trạng tăng đường huyết kéo dài. Ngoài ra, bệnh nhân còn có ceton niệu, dấu hiệu cảnh báo biến chứng nguy hiểm.
Khai thác bệnh sử cho thấy, bệnh nhân mắc đái tháo đường hơn 10 năm nhưng đã tự ý bỏ thuốc điều trị tây y trong 3 năm gần đây để chuyển sang dùng thuốc nam theo lời khuyên của người quen, với niềm tin có thể chữa khỏi hoàn toàn. Trong thời gian này, bệnh nhân không tái khám tại cơ sở chuyên khoa, chỉ theo dõi đường huyết tại nơi cung cấp thuốc.
Theo các bác sỹ, việc tự ý ngừng thuốc điều trị đái tháo đường làm gia tăng nguy cơ xảy ra các biến chứng cấp cứu như hôn mê nhiễm toan ceton hoặc tăng áp lực thẩm thấu máu. Đây đều là những tình trạng nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu không được xử trí kịp thời.
Bác sỹ Nguyễn Đăng Quân nhấn mạnh, đái tháo đường là bệnh mạn tính, cần điều trị lâu dài và tuân thủ nghiêm ngặt theo chỉ định của bác sỹ. Người bệnh cần theo dõi đường huyết thường xuyên, tái khám định kỳ và duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý.
“Hiện nay, y học chưa có phương pháp nào chữa khỏi hoàn toàn đái tháo đường. Việc điều trị chủ yếu nhằm kiểm soát tốt đường huyết để phòng ngừa biến chứng”, bác sỹ Quân cho biết.
Cũng theo bác sỹ, nhiều cơ sở đã lợi dụng tâm lý muốn khỏi bệnh nhanh của người bệnh để quảng cáo các phương pháp “chữa dứt điểm”, “không cần dùng thuốc tây”. Những thông tin này không có cơ sở khoa học, có thể khiến người bệnh bỏ lỡ thời gian điều trị quan trọng và đối mặt với nguy cơ biến chứng nặng.
Các chuyên gia khuyến cáo, kiểm soát đường huyết tốt là yếu tố then chốt giúp phòng tránh biến chứng và bảo vệ sức khỏe lâu dài. Người bệnh tuyệt đối không tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi phương pháp điều trị khi chưa có chỉ định của bác sỹ.
-
Tin mới y tế ngày 23/3: Không để dịch lan rộng trong cộng đồng -
Tin mới y tế ngày 22/3: Chuyên gia cảnh báo thói quen gây 90% ca ung thư phổi tại Việt Nam -
Long Châu chủ động bình ổn giá, đảm bảo nguồn cung thuốc và sản phẩm y tế thiết yếu -
Khi bệnh viện không còn là nơi chỉ để chữa bệnh -
Tin mới y tế ngày 21/3: Đổi mới thanh toán bảo hiểm y tế theo nhóm chẩn đoán -
Sa sút trí tuệ gia tăng: Việt Nam cần hệ thống chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi -
Ca mắc não mô cầu gia tăng
-
Xu hướng thiết kế nội thất Nhật Bản nổi bật đầu năm -
Công ty Cổ phần Cảng Sài Gòn mời báo giá dự toán gói thầu “Triển khai hệ thống phần mềm quản lý kho” -
Công ty Cổ phần Cảng Cửa Ngõ Sài Gòn mời chào báo giá dự toán gói thầu “Triển khai hệ thống phần mềm quản lý kho” -
Agribank đồng hành cùng Amaccao triển khai dự án điện rác 3.000 tỷ đồng: Khẳng định vai trò tiên phong trong tín dụng xanh
-
SeABank thông báo mời thầu -
Cụm công nghiệp Stavian Hưng Yên nhanh chóng cho nhà đầu tư thứ cấp thuê đất, tỷ lệ lấp đầy đạt 65%

