Thứ Hai, Ngày 28 tháng 09 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 28/9: Siết chặt chất lượng đào tạo y khoa
D.Ngân - 28/09/2026 08:52
 
Từ tháng 10, các cơ sở được tăng quyền tự chủ tổ chức đào tạo y khoa, trong lúc cơ quan quản lý chuyển trọng tâm từ xét duyệt trước sang hậu kiểm.

Siết chặt chất lượng đào tạo y khoa

Quản lý đào tạo nhân lực y tế đang có sự thay đổi đáng kể theo hướng giảm các thủ tục xét duyệt trước nhưng tăng trách nhiệm của đơn vị đào tạo đối với chất lượng đầu ra.

them-mot-truong-dai-hoc-tai-tp-ho-chi-minh-duoc-dao-tao-nganh-y-khoa-tuyen-sinh-tu-2026-a486936
Thay đổi phương thức quản lý chỉ thực sự có ý nghĩa nếu chứng chỉ phản ánh đúng năng lực của người được đào tạo.

TS.Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế cho biết, trước đây các khóa đào tạo liên tục phải trải qua quá trình thẩm định, phê duyệt và cấp phép trước lúc tổ chức. Từ tháng 10, cùng với chủ trương phân quyền, các cơ sở được chủ động tổ chức đào tạo trên cơ sở tiêu chí, tiêu chuẩn và hướng dẫn của Bộ Y tế.

Thay đổi này đồng nghĩa cơ quan quản lý sẽ giảm "tiền kiểm", tập trung nhiều hơn vào "hậu kiểm". Việc kiểm tra không chỉ dừng ở hồ sơ của một khóa học mà hướng đến câu hỏi quan trọng hơn: người học sau đào tạo có thực sự đạt năng lực cần thiết và có thể thực hiện kỹ thuật an toàn cho người bệnh hay không.

Ông Nguyễn Ngô Quang cho rằng thực tế vẫn tồn tại tình trạng một số đơn vị tổ chức đào tạo mang tính hình thức, ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực. Cơ quan Bảo hiểm y tế cũng đã phát hiện những trường hợp chứng chỉ đào tạo không đúng quy định.

Một điểm cần phân biệt rõ là chứng chỉ đào tạo và quyền thực hiện một kỹ thuật chuyên môn không phải một. Thiếu tướng, TS.Trần Quốc Việt, Giám đốc Bệnh viện Quân y 175 cho biết, đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa liên tục (CME) và đào tạo cấp chứng chỉ thực hiện kỹ thuật chuyên môn là những hoạt động có mục đích, đối tượng và yêu cầu khác nhau.

Đối với đào tạo cấp chứng chỉ kỹ thuật, đơn vị tổ chức phải chứng minh đủ năng lực đào tạo kỹ thuật đó. Điều kiện không chỉ nằm ở đội ngũ giảng viên mà còn bao gồm trang thiết bị, địa điểm thực hành và số lượng ca bệnh đủ để học viên được thực hành thực tế.

Chất lượng đầu ra cũng không thể được xác định đơn thuần bằng việc học viên đã tham dự đủ thời lượng khóa học hay vượt qua một bài kiểm tra. Khả năng thực hiện kỹ thuật sau đào tạo mới là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực.

Từ thực tế quản lý tại TP.HCM, TS.Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM lưu ý, nhân viên y tế có chứng chỉ đào tạo không đồng nghĩa đương nhiên được thực hiện kỹ thuật tại cơ sở đang làm việc.

Sau khóa học, cơ sở khám chữa bệnh phải đánh giá năng lực thực tế của nhân viên. Người chịu trách nhiệm chuyên môn tại cơ sở sau đó phải có quyết định bằng văn bản cho phép người này thực hiện kỹ thuật. Nếu chỉ có chứng chỉ đào tạo nhưng chưa được cho phép thực hiện, chi phí của kỹ thuật có thể không được cơ quan Bảo hiểm y tế chấp nhận thanh toán.

Quy định này đặt thêm một "hàng rào" giữa việc hoàn thành khóa đào tạo và thực hành trên người bệnh. Chứng chỉ xác nhận quá trình đào tạo, còn năng lực thực hiện kỹ thuật phải được kiểm chứng trong môi trường làm việc thực tế.

Một bất cập khác được chỉ ra là có cơ sở đủ khả năng thực hiện một kỹ thuật nhưng chưa chắc đã đủ năng lực đào tạo kỹ thuật đó. Ông Nguyễn Văn Vĩnh Châu cho biết, đã xuất hiện tình trạng một số đơn vị cử nhân viên đi học một kỹ thuật, sau đó quay về tự tổ chức đào tạo trong lúc điều kiện thực hành chưa đáp ứng yêu cầu, thậm chí không có đủ bệnh nhân thực tế để học viên thực hành.

"Một cơ sở thực hiện được kỹ thuật chưa hẳn đủ năng lực để đào tạo kỹ thuật đó, bởi nếu không có ca bệnh thì không thể đào tạo thực hành", ông Châu nhấn mạnh.

Điểm này đặc biệt quan trọng đối với các kỹ thuật y khoa có mức độ phức tạp và rủi ro cao. Khác với những khóa học chủ yếu cập nhật kiến thức, năng lực thực hành không thể hình thành chỉ qua bài giảng, tài liệu hay số giờ tham dự. Học viên cần được thực hành đủ mức cần thiết, dưới sự giám sát của người có chuyên môn và trong điều kiện cơ sở vật chất phù hợp.

Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm do đó không đồng nghĩa nới lỏng quản lý đào tạo. Quyền chủ động lớn hơn của các cơ sở cũng đi kèm trách nhiệm lớn hơn đối với chất lượng khóa học và năng lực của người được cấp chứng chỉ.

Từ thực tiễn quản lý, Sở Y tế TP.HCM kiến nghị Bộ Y tế xây dựng khung chuẩn đầu ra tối thiểu, bao gồm cả kiến thức và năng lực thực hành, làm căn cứ thống nhất cho các cơ sở tổ chức đào tạo. Các kỹ thuật cũng cần được phân loại theo mức độ rủi ro để nguồn lực hậu kiểm tập trung vào những lĩnh vực có nguy cơ cao đối với an toàn người bệnh.

Thay đổi phương thức quản lý chỉ thực sự có ý nghĩa nếu chứng chỉ phản ánh đúng năng lực của người được đào tạo. Với những kỹ thuật tác động trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người bệnh, số giờ đã học hay một tấm chứng chỉ không thể thay thế khả năng thực hiện kỹ thuật an toàn trong thực tế.

Ngành y tế rà soát lại "bộ khung" tiêu chuẩn, quy chuẩn

Bộ Y tế đang rà soát tổng thể hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn thuộc phạm vi quản lý, trong bối cảnh nhiều công nghệ, sản phẩm và phương thức chuyên môn mới xuất hiện nhanh hơn chu kỳ xây dựng các yêu cầu kỹ thuật.

Các đơn vị chuyên môn được yêu cầu đánh giá hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành, xác định những lĩnh vực còn thiếu, nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới. Trên cơ sở đó, từng đơn vị phải xác định nhiệm vụ trong năm 2026 và những năm tiếp theo, kèm lộ trình và nguồn lực thực hiện.

Mục tiêu không đơn thuần là tăng số lượng tiêu chuẩn, quy chuẩn. Bộ Y tế đặt yêu cầu hệ thống này phải đồng bộ hơn giữa các lĩnh vực và theo sát sự thay đổi của chuyên môn, công nghệ cũng như yêu cầu quản lý.

Một vấn đề được Bộ Y tế chỉ ra là số lượng và mức độ cập nhật của tiêu chuẩn trong nước vẫn cần tiếp tục cải thiện so với tốc độ phát triển của tiêu chuẩn quốc tế.

Khoảng cách này trở nên đáng chú ý trong lĩnh vực y tế bởi tiêu chuẩn, quy chuẩn là căn cứ kỹ thuật cho nhiều hoạt động từ sản xuất, lưu thông sản phẩm đến kiểm tra chất lượng, bảo đảm an toàn và thực hành chuyên môn. Công nghệ thay đổi nhưng yêu cầu kỹ thuật chậm được cập nhật có thể tạo ra khoảng trống trong quản lý hoặc khiến những quy định hiện hành không còn theo sát thực tế.

Các đơn vị chuyên môn do đó được yêu cầu chủ động xác định những lĩnh vực còn thiếu tiêu chuẩn, nội dung cần sửa đổi và những yêu cầu kỹ thuật mới cần được bổ sung.

Quá trình xây dựng cũng phải có sự tham gia của các đơn vị chuyên môn, chuyên gia và tổ chức liên quan. Việc tham vấn nhằm bảo đảm những yêu cầu được ban hành vừa có cơ sở khoa học, vừa đủ khả năng áp dụng trong thực tế, tránh tình trạng tiêu chuẩn tồn tại trên văn bản nhưng khó triển khai.

Một số lĩnh vực đã bắt đầu được rà soát cụ thể. Trong an toàn thực phẩm, Bộ Y tế đang xây dựng quy định thay thế quy chuẩn về giới hạn ô nhiễm độc tố vi nấm trong thực phẩm. Nội dung được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, rà soát các yêu cầu kỹ thuật và tiếp thu ý kiến trong quá trình hoàn thiện dự thảo.

Các quy chuẩn về vệ sinh lao động cũng đang được cập nhật, trong đó có giới hạn tiếp xúc đối với yếu tố hóa học và vi sinh vật tại nơi làm việc. Hồ sơ dự thảo đã được lấy ý kiến, tham vấn và phản biện trước khi tiếp tục hoàn thiện.

Hai nhóm nội dung cho thấy tiêu chuẩn, quy chuẩn y tế không chỉ liên quan đến hoạt động bên trong bệnh viện. Phạm vi điều chỉnh trải rộng từ thực phẩm người dân sử dụng, điều kiện an toàn tại nơi làm việc đến nhiều sản phẩm, hàng hóa và hoạt động chuyên môn có tác động trực tiếp tới sức khỏe.

Việc xây dựng một yêu cầu kỹ thuật mới cũng kéo theo tác động đối với nhiều chủ thể. Cơ quan quản lý có căn cứ thống nhất để kiểm tra, đánh giá; cơ sở y tế và doanh nghiệp biết rõ ngưỡng kỹ thuật cần đáp ứng; người dân có thêm những "hàng rào" về chất lượng và an toàn đối với sản phẩm, dịch vụ mình sử dụng.

Tuy nhiên, giá trị của một tiêu chuẩn hay quy chuẩn không kết thúc ở thời điểm văn bản được ban hành. Hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng triển khai, mức độ tuân thủ và hoạt động kiểm tra trên thực tế. Một yêu cầu kỹ thuật quá chậm so với công nghệ có thể mất tính cập nhật, nhưng một quy định thiếu điều kiện thực thi cũng khó tạo ra thay đổi thực chất.

Bộ Y tế do đó yêu cầu gắn quá trình xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn với cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục đánh giá việc thực hiện để nhận diện và loại bỏ những rào cản không cần thiết. Hoạt động phổ biến cũng phải được tăng cường để tổ chức, cá nhân hiểu và áp dụng đúng các yêu cầu mới.

Thời gian tới, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn tiếp tục được rà soát theo từng lĩnh vực để xác định thứ tự ưu tiên và phân công đơn vị triển khai. Trong một ngành chịu tác động nhanh của công nghệ và đổi mới chuyên môn như y tế, "bộ khung" kỹ thuật cũng phải được cập nhật liên tục. Điều quan trọng không nằm ở việc có thêm bao nhiêu tiêu chuẩn, mà ở khả năng biến chúng thành những yêu cầu đủ rõ, khả thi và có thể kiểm chứng để chất lượng, an toàn được bảo đảm trên thực tế.

TP.HCM phân rõ đầu mối điều tra ngộ độc thực phẩm

UBND TP.HCM vừa ban hành Quyết định 5976/QĐ-UBND ngày 16/9/2026 về Quy chế phối hợp điều tra ngộ độc thực phẩm trên địa bàn, phân định cụ thể cơ quan chủ trì và trách nhiệm của từng đơn vị từ thời điểm tiếp nhận thông tin, cấp cứu người bệnh, lấy mẫu đến xác định nguyên nhân và xử lý vụ việc.

Quy chế áp dụng đối với các sở, ban, ngành, UBND phường, xã, đặc khu, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm cùng các tổ chức, cá nhân liên quan.

Một trong những thay đổi đáng chú ý là xác định rõ đầu mối điều tra dựa trên tính chất, phạm vi và mức độ của vụ ngộ độc. Sở An toàn thực phẩm TP.HCM chủ trì điều tra các vụ xảy ra trong khu công nghiệp, khu chế xuất; tại cơ sở giáo dục từ cấp THPT trở lên; vụ việc liên quan từ hai phường, xã, đặc khu trở lên hoặc có trường hợp tử vong.

Những vụ việc không thuộc các trường hợp trên do UBND phường, xã, đặc khu chủ trì điều tra tại địa bàn. Sở An toàn thực phẩm đồng thời là đầu mối tiếp nhận thông tin ban đầu, xác định cơ quan có trách nhiệm chủ trì và trực tiếp xác minh nguyên nhân đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền. Cơ quan chủ trì có thể tổ chức họp, làm việc với các đơn vị liên quan để thống nhất biện pháp xử lý nếu cần thiết.

Việc phân rõ trách nhiệm ngay từ đầu nhằm hạn chế tình trạng chậm xác định đơn vị chủ trì trong lúc điều tra ngộ độc thực phẩm đòi hỏi nhiều cơ quan cùng tham gia và các bằng chứng như thực phẩm, mẫu lưu, bệnh phẩm có thể thay đổi hoặc mất đi nếu không được xử lý kịp thời.

Quy chế đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với cơ sở xảy ra vụ ngộ độc hoặc nghi ngờ ngộ độc. Cơ sở phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan; ngừng sử dụng, niêm phong và bảo quản nguyên trạng thực phẩm, nguyên liệu, mẫu lưu nghi là nguyên nhân.

Thực phẩm và mẫu liên quan không được tự ý tiêu hủy hoặc di chuyển nếu chưa có ý kiến của cơ quan chủ trì điều tra. Cơ sở cũng phải phối hợp lấy mẫu thực phẩm, mẫu môi trường, tạo điều kiện để đoàn điều tra tiếp cận hiện trường và phỏng vấn những người có liên quan. Đây là những dữ liệu quan trọng để xác định bữa ăn, món ăn hoặc tác nhân có khả năng gây ngộ độc.

Các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm chuyển giao thông tin, hồ sơ và tài liệu phục vụ điều tra. Việc trao đổi có thể thực hiện trực tiếp, bằng văn bản, điện thoại, thư điện tử hoặc các hình thức phù hợp khác.

TP.HCM cũng định hướng ưu tiên chia sẻ thông tin qua nền tảng số và hệ thống thông tin dùng chung về an toàn thực phẩm sau lúc hệ thống được đưa vào vận hành, nhằm rút ngắn thời gian tiếp nhận và xử lý thông tin giữa các đơn vị.

Ngành y tế giữ một mắt xích quan trọng trong quá trình xác định nguyên nhân ngộ độc. Sở Y tế có trách nhiệm chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tiếp nhận, cấp cứu, điều trị người bệnh, lấy mẫu bệnh phẩm và triển khai các biện pháp chuyên môn cần thiết.

Cơ sở khám chữa bệnh phải kịp thời báo cáo vụ việc cho cơ quan đầu mối, đồng thời cung cấp thông tin chuyên môn, hồ sơ bệnh án, kết quả khám, điều trị và xét nghiệm phục vụ quá trình điều tra.

Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM phối hợp xác định hoặc loại trừ những khả năng khác như dịch bệnh, ngộ độc hóa chất hoặc hiệu ứng dây chuyền liên quan đến vụ việc.

Những yêu cầu này cho thấy việc kết luận một vụ ngộ độc không thể chỉ dựa trên triệu chứng của một nhóm người sau bữa ăn. Cơ quan điều tra phải kết hợp dữ liệu dịch tễ, biểu hiện lâm sàng, kết quả xét nghiệm bệnh phẩm, mẫu thực phẩm, điều kiện chế biến, bảo quản và thông tin về những người cùng sử dụng thực phẩm.

Quy chế mới được ban hành trong bối cảnh TP.HCM liên tiếp ghi nhận các vụ ngộ độc thực phẩm có số người mắc lớn, đặc biệt tại những bếp ăn phục vụ đông người.

Việt Nam có thêm trường đại học đào tạo y khoa chuẩn quốc tế
Trường Đại học Tâm Anh được định hướng đào tạo tổng hợp và y khoa chuyên sâu, dự kiến tuyển sinh từ đầu năm 2027.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư