Báo Đầu Tư
Thứ Sáu, Ngày 06 tháng 11 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 6/11: Liên tiếp phát hiện ung thư từ những nốt đen ở da
D.Ngân - 06/11/2026 09:21
  Print
Những nốt đen ở lòng bàn chân, gót chân tưởng chừng vô hại có thể là dấu hiệu của ung thư tế bào hắc tố, một trong những loại ung thư da nguy hiểm.

Liên tiếp phát hiện ung thư từ những tổn thương da bị bỏ qua

Bệnh viện Da liễu Trung ương thời gian gần đây tiếp nhận ba trường hợp mắc ung thư tế bào hắc tố tại lòng bàn chân và gót chân. Điểm chung đáng lo ngại là các bệnh nhân đều phát hiện tổn thương sắc tố bất thường từ trước nhưng chủ quan hoặc điều trị theo hướng bệnh lý da thông thường, chỉ đến bệnh viện chuyên khoa khi tổn thương tăng kích thước, loét và chảy máu.

Ths.Trưởng Quốc Sơn, Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết, trường hợp đầu tiên là nam bệnh nhân 60 tuổi, xuất hiện vết đen ở lòng bàn chân trái khoảng hai năm trước khi nhập viện. Ban đầu, tổn thương không gây đau, ngứa hoặc thay đổi kích thước rõ rệt nên người bệnh không đi khám.

Medical Lesion Examination Warning.png
Các bác sỹ cảnh báo, tổn thương thường không gây đau, ngứa trong giai đoạn đầu nên dễ bị bỏ qua, khiến người bệnh đến viện muộn, đối mặt nguy cơ xâm lấn sâu và di căn.

Khoảng hai tháng trước khi nhập viện, vết đen bắt đầu lớn nhanh, trợt loét và chảy dịch lẫn máu. Thăm khám ghi nhận tổn thương kích thước 4,1 x 3,5 cm, ranh giới không rõ, trung tâm loét. Kết quả giải phẫu bệnh xác định ung thư tế bào hắc tố.

Trường hợp thứ hai là nữ bệnh nhân ngoài 80 tuổi, phát hiện mảng tăng sắc tố ở gót chân trái khoảng năm tháng trước. Tổn thương lớn dần và bắt đầu loét một tháng trước khi nhập viện. Người bệnh tự ngâm thuốc lá nhưng không cải thiện. Kết quả xét nghiệm sau đó xác định ung thư tế bào hắc tố vùng gót chân.

Đáng chú ý, bệnh nhân thứ ba là phụ nữ ngoài 70 tuổi, có tổn thương sắc tố ở gót chân phải kéo dài khoảng hai năm. Trước đó, người bệnh từng được chẩn đoán chai chân và phẫu thuật cắt bỏ. Tuy nhiên, tổn thương tái xuất hiện tại vị trí cũ, tăng kích thước, trợt loét và chảy dịch.

Người bệnh tiếp tục được điều trị theo hướng nhiễm trùng da, viêm mô bào bằng kháng sinh nhưng không đáp ứng. Chỉ sau khi đến Bệnh viện Da liễu Trung ương, tổn thương được cắt bỏ và làm giải phẫu bệnh, kết quả mới xác định ung thư tế bào hắc tố.

Các bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ tổn thương, ghép da che phủ và sinh thiết hạch gác để đánh giá khả năng lan rộng của bệnh. Căn cứ kết quả giải phẫu bệnh và đánh giá giai đoạn, bác sỹ sẽ quyết định phương án điều trị, theo dõi tiếp theo.

Ba trường hợp cho thấy ung thư da có thể khởi phát bằng những biểu hiện rất kín đáo, dễ bị nhầm với nốt ruồi, chai chân hoặc tổn thương viêm nhiễm thông thường. Việc chủ quan, tự điều trị hoặc kéo dài thời gian thăm khám có thể khiến người bệnh bỏ lỡ cơ hội phát hiện ở giai đoạn sớm.

TS.Nguyễn Hồng Sơn, Trưởng khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết, ung thư tế bào hắc tố là bệnh lý ác tính xuất phát từ các tế bào sản xuất sắc tố melanin trong da hoặc niêm mạc.

Đây là một trong những loại ung thư da nguy hiểm do khả năng xâm lấn sâu và di căn tới hạch bạch huyết, phổi, gan, não hoặc các cơ quan khác. Tiên lượng phụ thuộc nhiều vào giai đoạn phát hiện và mức độ lan rộng của khối u.

Ở người châu Á, ung thư tế bào hắc tố có thể xuất hiện tại những vị trí ít được chú ý như lòng bàn chân, gót chân hoặc vùng dưới móng. Trong giai đoạn đầu, tổn thương thường chỉ là một nốt hoặc mảng sắc tố sẫm màu, không gây đau, ngứa nên người bệnh dễ bỏ qua.

Các dấu hiệu đáng cảnh giác bao gồm nốt sắc tố mới xuất hiện hoặc thay đổi bất thường về kích thước, hình dạng, màu sắc; tổn thương có bờ không đều, nhiều màu, loét, chảy máu hoặc tái phát sau khi cắt bỏ. Những vết thương kéo dài, không đáp ứng với điều trị thông thường cũng cần được đánh giá chuyên khoa để loại trừ bệnh lý ác tính.

Theo TS.Nguyễn Hồng Sơn, phát hiện sớm có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả điều trị. Ở giai đoạn tổn thương còn khu trú, người bệnh có thể được phẫu thuật cắt bỏ với khả năng kiểm soát bệnh cao, đồng thời bảo tồn tốt hơn chức năng và hình thể của chi.

Ngược lại, nếu khối u đã xâm lấn sâu hoặc di căn, việc điều trị trở nên phức tạp, có thể phải kết hợp phẫu thuật diện rộng với liệu pháp miễn dịch hoặc thuốc điều trị đích. Một số trường hợp tổn thương tiến triển nặng có thể đối mặt nguy cơ phải đoạn chi.

Các bác sỹ khuyến cáo người dân cần chủ động quan sát những vùng da ít được chú ý, đặc biệt là lòng bàn chân, gót chân, kẽ ngón và vùng dưới móng. Không tự ý đắp lá, ngâm thuốc, bôi các sản phẩm không rõ nguồn gốc hoặc kéo dài điều trị khi tổn thương không cải thiện.

GS-TS.Nguyễn Hữu Sáu, Chủ tịch Hội Da liễu Việt Nam, Trưởng nhóm Ung thư tế bào hắc tố, Bệnh viện Da liễu Trung ương nhấn mạnh, người dân không nên chờ đến lúc tổn thương gây đau đớn mới đi khám. Một nốt đen bất thường ở bàn chân, dù chưa gây khó chịu, vẫn cần được đánh giá nếu có những thay đổi đáng ngờ.

Chuyên gia cho biết, ung thư da và ung thư tế bào hắc tố cũng là những nội dung được quan tâm tại Hội nghị Da liễu khu vực châu Á - châu Úc lần thứ 27 tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của hơn 2.000 đại biểu và các chuyên gia trong nước, quốc tế.

Từ những trường hợp được phát hiện tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, các bác sỹ nhấn mạnh việc nhận diện sớm bất thường trên da, thăm khám đúng chuyên khoa và thực hiện xét nghiệm giải phẫu bệnh khi có chỉ định là yếu tố quan trọng giúp tránh bỏ sót ung thư.

Một tổn thương nhỏ, không đau, không ngứa chưa đồng nghĩa với lành tính. Chủ động kiểm tra những thay đổi bất thường, đặc biệt tại các vị trí dễ bị bỏ qua như lòng bàn chân và gót chân, có thể giúp phát hiện bệnh sớm, nâng cao hiệu quả điều trị và hạn chế những biến chứng nghiêm trọng.

Lạm dụng rượu, cô gái 23 tuổi bị xuất huyết tiêu hóa

Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Cầu Giấy vừa tiếp nhận bệnh nhân L.T.H.D. (23 tuổi, Hải Dương) đến thăm khám do nôn ra máu sau một buổi liên hoan cùng bạn bè.

Trước đó một ngày, người bệnh sử dụng nhiều rượu, sau đó xuất hiện tình trạng buồn nôn, nôn liên tục, chất nôn lẫn thức ăn và những vệt máu đỏ tươi. Trước dấu hiệu nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa, các bác sỹ chỉ định nội soi thực quản - dạ dày - tá tràng để xác định nguyên nhân.

Kết quả nội soi phát hiện hai vết rách tại vùng tâm vị, mỗi vết có kích thước khoảng 5 mm và đang chảy máu. Bác sỹ tiến hành làm sạch tổn thương, tiêm dung dịch adrenalin pha loãng tỷ lệ 1/10.000 quanh vết rách để cầm máu.

Người bệnh được chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa trên do rách niêm mạc vùng nối thực quản - dạ dày, còn gọi là hội chứng Mallory-Weiss. Sau can thiệp, bệnh nhân được tư vấn nhập viện để tiếp tục theo dõi và điều trị.

Trường hợp này cho thấy, sử dụng nhiều rượu không chỉ gây ảnh hưởng đến gan và sức khỏe lâu dài mà còn có thể dẫn đến những biến chứng cấp tính nguy hiểm ở đường tiêu hóa. Đặc biệt, các cơn nôn mạnh và liên tiếp có thể gây tổn thương niêm mạc thực quản - dạ dày, dẫn đến xuất huyết ngay cả ở người trẻ tuổi, trước đó không ghi nhận bệnh lý tiêu hóa.

BSNT.Đặng Thị Tâm, chuyên khoa Nội, Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Tây Hồ cho biết, hội chứng Mallory-Weiss là tình trạng rách niêm mạc tại vùng tiếp giáp giữa thực quản và dạ dày, thường xuất hiện sau những cơn nôn ói dữ dội hoặc các tình huống làm áp lực ổ bụng tăng đột ngột.

Uống nhiều rượu là một trong những yếu tố nguy cơ đáng chú ý, bởi rượu có thể kích thích đường tiêu hóa, gây buồn nôn và nôn liên tục. Áp lực gia tăng trong những cơn nôn mạnh có thể khiến niêm mạc vùng nối thực quản - dạ dày bị rách, gây chảy máu.

Ngoài nôn ói kéo dài, tình trạng ho dữ dội, gắng sức mạnh hoặc chấn thương vùng bụng cũng có thể liên quan đến hội chứng này.

Triệu chứng điển hình là nôn ra máu, thường xuất hiện sau nhiều lần nôn. Tùy mức độ xuất huyết, người bệnh có thể kèm đau vùng thượng vị, chóng mặt, mệt mỏi, tim đập nhanh hoặc tụt huyết áp. Trường hợp mất máu nhiều có thể dẫn đến ngất, sốc mất máu, đe dọa tính mạng.

Bác sỹ Tâm cho biết, khoảng 80-90% trường hợp Mallory-Weiss có thể tự cầm máu. Tuy nhiên, người bệnh không nên chủ quan bởi vẫn có nguy cơ chảy máu kéo dài, tái xuất huyết hoặc mất máu nghiêm trọng.

Nội soi thực quản - dạ dày - tá tràng là phương pháp quan trọng để xác định tổn thương, đánh giá mức độ chảy máu và can thiệp cầm máu nếu cần thiết. Phương pháp này đồng thời giúp phân biệt hội chứng Mallory-Weiss với các nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa khác như loét dạ dày - tá tràng hoặc vỡ giãn tĩnh mạch thực quản.

Từ trường hợp trên, bác sỹ khuyến cáo người dân cần hạn chế rượu bia, tránh uống quá nhiều trong thời gian ngắn và không xem nhẹ các biểu hiện bất thường sau những cuộc liên hoan, ăn uống.

Đặc biệt, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, chóng mặt, ngất hoặc đau bụng dữ dội là những dấu hiệu cần được thăm khám cấp cứu. Người bệnh không nên tự ý dùng thuốc hoặc chờ triệu chứng tự thuyên giảm, bởi xuất huyết tiêu hóa có thể diễn biến nhanh và gây hậu quả nghiêm trọng.

Các chuyên gia lưu ý, tuổi trẻ và thể trạng khỏe mạnh không đồng nghĩa với việc có thể tránh được những tổn thương cấp tính do rượu bia. Nhận diện sớm dấu hiệu cảnh báo, cấp cứu kịp thời và hạn chế sử dụng đồ uống có cồn là những biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa biến chứng, bảo vệ sức khỏe.

Mắc đái tháo đường 30 năm, người phụ nữ 70 tuổi suy giảm nghiêm trọng chức năng thận

Sau 30 năm mắc đái tháo đường, người phụ nữ 70 tuổi bị tổn thương thận với độ lọc cầu thận giảm sâu, kèm nhiều bệnh lý chuyển hóa. Nhờ điều trị và kiểm soát các bệnh nền, chức năng lọc của thận cải thiện đáng kể sau hơn một năm, song nguy cơ tổn thương tiến triển vẫn đòi hỏi người bệnh phải được theo dõi lâu dài.

Giữa tháng 10/2026, bà Quỳnh (70 tuổi) đến một cơ sở khám chữa bệnh tại TP.HCM tái khám sau hơn một năm điều trị tổn thương thận. Kết quả xét nghiệm ghi nhận độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) đạt 75 ml/phút/1,73 m², tăng gấp ba lần so với thời điểm người bệnh được phát hiện suy giảm chức năng thận nghiêm trọng.

Trước đó một năm, bà Quỳnh đến bệnh viện trong tình trạng phù hai chân, nước tiểu nhiều bọt. Kết quả xét nghiệm cho thấy eGFR chỉ còn 25 ml/phút/1,73 m², phản ánh mức suy giảm đáng kể chức năng lọc của thận.

BS.CKII.Võ Thị Kim Thanh, chuyên khoa thận lọc máu cho biết, người bệnh có tiền sử đái tháo đường kéo dài 30 năm và đã xuất hiện biến chứng võng mạc. Bên cạnh đó, bà còn mắc tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và béo phì độ III, những yếu tố làm gia tăng nguy cơ tổn thương thận và biến chứng tim mạch.

Sau thăm khám, các bác sỹ xác định người bệnh mắc bệnh thận do đái tháo đường, kèm một đợt tổn thương thận cấp trên nền bệnh thận mạn.

Đáng chú ý, người bệnh cho biết phải sử dụng tới năm loại thuốc điều trị đái tháo đường mỗi ngày, cùng thuốc kiểm soát huyết áp. Ngoài ra, bà còn có thói quen uống nước lá cây, khiến việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thận và quản lý điều trị trở nên phức tạp hơn.

Bác sỹ Thanh giải thích, ở người mắc đái tháo đường lâu năm, tình trạng tăng đường huyết kéo dài có thể làm tổn thương hệ thống mạch máu nhỏ và cầu thận, khiến protein, đặc biệt là albumin, thất thoát qua nước tiểu. Quá trình này thường tiến triển âm thầm trong nhiều năm, ít gây triệu chứng rõ rệt ở giai đoạn đầu.

Nếu đồng thời mắc tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa hoặc béo phì, nguy cơ suy giảm chức năng thận càng gia tăng. Việc sử dụng thuốc không đúng chỉ định, một số loại thuốc có khả năng gây hại cho thận hoặc tình trạng mất nước cũng có thể khiến chức năng thận xấu đi.

Trước tình trạng của bà Quỳnh, các bác sỹ xây dựng phác đồ điều trị nội khoa nhằm xử lý đợt tổn thương thận cấp, đồng thời kiểm soát đường huyết, huyết áp và các bệnh lý đi kèm. Người bệnh được điều chỉnh thuốc phù hợp để giảm thất thoát đạm qua nước tiểu, bảo vệ tim, thận và hạn chế nguy cơ suy giảm chức năng thận.

Quá trình điều trị còn kết hợp kiểm soát suy tim, rối loạn chuyển hóa và béo phì. Có thời điểm người bệnh mệt mỏi, tự ý ngừng thuốc, buộc bác sỹ phải đánh giá lại nguyên nhân triệu chứng, khả năng dung nạp và điều chỉnh phương án điều trị.

Trong những tháng đầu, eGFR cải thiện nhưng vẫn dao động ở mức 34-37 ml/phút/1,73 m². Đến tháng 8/2026, chỉ số tăng lên 75 ml/phút/1,73 m² và tiếp tục duy trì ở lần tái khám giữa tháng 10.

Theo bác sỹ Thanh, mức cải thiện này cho thấy chức năng lọc của thận đã phục hồi đáng kể sau đợt tổn thương cấp. Tuy nhiên, kết quả eGFR tăng không đồng nghĩa bệnh thận mạn hoặc những tổn thương đã hình thành trước đó được chữa khỏi hoàn toàn. Người bệnh vẫn cần theo dõi để đánh giá diễn biến lâu dài và phòng ngừa nguy cơ tái tổn thương.

Bệnh thận do đái tháo đường là một trong những biến chứng nghiêm trọng của bệnh đái tháo đường, có thể dẫn đến suy giảm chức năng thận kéo dài và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch.

Điều đáng lo ngại là tổn thương thận thường tiến triển kín đáo, người bệnh có thể không nhận thấy bất thường trong nhiều năm. Những biểu hiện như phù chân, nước tiểu nhiều bọt, tiểu ít hoặc mệt mỏi đôi khi chỉ xuất hiện rõ khi chức năng thận đã bị ảnh hưởng đáng kể.

Việc kiểm soát đường huyết đóng vai trò quan trọng trong hạn chế tiến triển tổn thương thận, song chưa đủ nếu người bệnh đồng thời mắc tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì hoặc bệnh tim mạch.

Do đó, quá trình điều trị cần tiếp cận toàn diện, kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ, lựa chọn thuốc phù hợp với chức năng thận và thường xuyên đánh giá đáp ứng điều trị.

Đặc biệt, người mắc đái tháo đường lâu năm cần theo dõi định kỳ cả eGFR và albumin niệu. Hai chỉ số này giúp bác sỹ đánh giá chức năng lọc, phát hiện dấu hiệu tổn thương thận và phân tầng nguy cơ tiến triển bệnh.

Người bệnh cũng không nên tự ý thay đổi liều, ngừng thuốc khi thấy mệt hoặc sử dụng thêm các loại thuốc, thực phẩm chức năng, nước lá cây không rõ thành phần khi chưa tham khảo ý kiến bác sỹ. Một số sản phẩm có thể chứa những chất gây độc cho thận hoặc tương tác với thuốc đang điều trị, đặc biệt ở người cao tuổi mắc nhiều bệnh nền.

Bên cạnh tuân thủ điều trị, duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, kiểm soát cân nặng, hạn chế muối theo hướng dẫn và vận động phù hợp với thể trạng cũng góp phần bảo vệ chức năng thận và sức khỏe tim mạch.

Bác sỹ khuyến cáo, người mắc đái tháo đường nếu xuất hiện phù chân, nước tiểu nhiều bọt kéo dài, lượng nước tiểu giảm hoặc cân nặng tăng nhanh bất thường cần đến cơ sở y tế để được đánh giá nguyên nhân.

Trường hợp bà Quỳnh cho thấy, ngay cả khi chức năng thận đã suy giảm đáng kể, việc xác định đúng nguyên nhân, điều trị phù hợp và kiểm soát tốt các bệnh lý đi kèm vẫn có thể mang lại cải thiện quan trọng. Tuy nhiên, yếu tố quyết định trong quản lý lâu dài là phát hiện sớm tổn thương, tuân thủ điều trị và theo dõi định kỳ, thay vì chờ đến lúc xuất hiện những biến chứng nghiêm trọng mới can thiệp.

Tin mới y tế ngày 25/10: Ung thư đại trực tràng gia tăng, nhiều người đánh mất cơ hội điều trị vì phát hiện muộn
Tin mới y tế ngày 25/10: Ung thư đại trực tràng gia tăng, nhiều người đánh mất cơ hội điều trị vì phát hiện muộn
Với hơn 22.500 ca mắc mới mỗi năm, ung thư đại trực tràng đã trở thành loại ung thư phổ biến thứ ba tại Việt Nam. Đáng lo ngại, nhiều trường...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư