Thứ Ba, Ngày 10 tháng 03 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 9/3: Phát hiện ung thư phổi hiếm gặp từ khối u không triệu chứng
D.Ngân - 09/03/2026 09:56
 
Một khối u phổi được theo dõi suốt 4 năm do nghi ngờ lành tính bất ngờ tăng kích thước và được xác định là ung thư tế bào thần kinh nội tiết - dạng bệnh hiếm gặp.

Phát hiện ung thư phổi hiếm gặp từ khối u không triệu chứng

Ông Hiếu, 60 tuổi, không có triệu chứng hô hấp hay dấu hiệu bất thường nào. Cách đây 4 năm, trong một lần khám sức khỏe định kỳ, ông tình cờ phát hiện có khối u nhỏ ở phổi.

Ảnh minh họa.

Qua nhiều lần thăm khám tại các cơ sở y tế, khối u được nhận định có khả năng lành tính nên chỉ cần theo dõi định kỳ, chưa cần can thiệp. Tuy nhiên, trong lần kiểm tra gần đây tại viện, kết quả chụp CT cho thấy khối u đã tăng kích thước từ 1,5 cm lên 2,3 cm. Đây là dấu hiệu khiến các bác sỹ quyết định đánh giá chuyên sâu hơn để xác định bản chất khối u.

PGS-TS.Vũ Hữu Vĩnh, chuyên khoa ung thư cho biết, khối u nằm sâu trong nhu mô phổi, bị kẹp giữa tĩnh mạch phổi và động mạch chủ ngay vùng rốn phổi, thuộc phân thùy S6. Đây là vị trí đặc biệt phức tạp, khiến việc tiếp cận bằng các phương pháp thông thường như nội soi phế quản hay nội soi lồng ngực gặp nhiều khó khăn.

Ngay cả phương pháp chọc kim sinh thiết qua thành ngực cũng tiềm ẩn rủi ro cao, bởi chỉ cần lệch hướng có thể chạm vào các mạch máu lớn và gây chảy máu ồ ạt, đe dọa tính mạng người bệnh. Trước thách thức này, êkíp phẫu thuật quyết định sử dụng hệ thống robot Da Vinci Xi để tiếp cận khối u.

Nhờ các cánh tay robot linh hoạt có thể xoay 540 độ, phẫu thuật viên có thể luồn lách vào những vị trí sâu và hiểm trong lồng ngực, thực hiện ca mổ “2 trong 1”: vừa sinh thiết để xác định bản chất khối u vừa cắt bỏ tổn thương.

Ca phẫu thuật diễn ra không ít thách thức khi cơ địa người bệnh khó đáp ứng thuốc mê, phổi không xẹp hoàn toàn khiến tầm nhìn của phẫu thuật viên bị hạn chế và tăng nguy cơ chảy máu. Êkíp gây mê phải thực hiện kỹ thuật cô lập phổi bằng ống nội khí quản hai nòng, liên tục điều chỉnh máy thở để giảm áp lực dương cuối kỳ thở ra xuống mức tối thiểu và hút khí tồn đọng trong phế quản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật.

Sau khoảng 2 giờ, khối u được bóc tách để lấy mẫu sinh thiết lạnh ở nhiệt độ từ -20 đến -50 độ C. Khoảng 40 phút sau, kết quả xác định đây là khối u carcinoid phổi - một dạng ung thư tế bào thần kinh nội tiết hiếm gặp.

Theo PGS.Vũ Hữu Vĩnh, u carcinoid thường xuất hiện ở đường tiêu hóa hoặc phế quản. Trường hợp khối u nằm sâu trong nhu mô phổi như của ông Hiếu rất hiếm, chỉ chiếm khoảng 1-2% tổng số ca ung thư phổi.

Sau khi có kết quả sinh thiết, êkíp tiếp tục điều khiển robot cắt bỏ toàn bộ thùy phổi chứa khối u. Ca phẫu thuật kéo dài 4 giờ, lâu hơn khoảng 1,5 lần so với các ca phẫu thuật robot thông thường, nhưng đã nằm trong dự tính của êkíp do vị trí đặc biệt phức tạp của khối u. Nhờ kỹ thuật xâm lấn tối thiểu, bệnh nhân hồi phục nhanh và đủ điều kiện tiếp tục các liệu trình điều trị bổ trợ sau phẫu thuật.

Theo số liệu GLOBOCAN 2022, mỗi năm Việt Nam ghi nhận 24.426 ca mắc mới và hơn 22.597 trường hợp tử vong do ung thư phổi. Đây vẫn là một trong những loại ung thư gây tử vong hàng đầu, đặc biệt nguy hiểm ở chỗ nhiều trường hợp không có triệu chứng rõ ràng trong giai đoạn đầu.

Các chuyên gia cho biết tình trạng viêm mạn tính kéo dài có thể làm thay đổi cấu trúc tế bào và thúc đẩy quá trình ác tính hóa ở một số khối u vốn được đánh giá là lành tính. Điều này khiến việc theo dõi sức khỏe định kỳ trở nên đặc biệt quan trọng, nhất là với những người có tiền sử hút thuốc, làm việc trong môi trường ô nhiễm hoặc tiếp xúc với hóa chất độc hại.

Từ thực tế lâm sàng, các bác sỹ khuyến cáo người dân cần duy trì thói quen khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm những bất thường ở phổi, qua đó nâng cao hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ biến chứng nặng. Bên cạnh đó, việc hạn chế hút thuốc lá, bảo vệ đường hô hấp và chủ động kiểm soát các yếu tố nguy cơ cũng là những biện pháp quan trọng trong chiến lược phòng ngừa ung thư phổi ở cộng đồng.

Suy đa cơ quan sau nhiều năm sống chung với hở van hai lá nặng

Từ chối phẫu thuật thay van tim suốt nhiều năm vì tâm lý sợ mổ, một bệnh nhân đã rơi vào tình trạng suy tim nặng kèm suy gan, suy thận. Trường hợp này cho thấy việc trì hoãn điều trị các bệnh lý tim mạch có thể kéo theo hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều cơ quan trong cơ thể.

Bà Tân, 66 tuổi, phát hiện hở van hai lá cách đây 4 năm và được bác sỹ tư vấn phẫu thuật thay van. Tuy nhiên, vì lo ngại rủi ro phẫu thuật, bà lựa chọn điều trị nội khoa và tiếp tục theo dõi. Theo thời gian, các triệu chứng bắt đầu xuất hiện và ngày càng rõ rệt. Ban đầu bà chỉ cảm thấy hụt hơi khi leo một tầng cầu thang, sau đó dần mất khả năng làm việc nhà hay đi bộ thể dục như trước.

Khoảng hai tháng gần đây, tình trạng bệnh trở nên nặng nề hơn khi bà thường xuyên khó thở, phải ngủ trong tư thế ngồi, mệt mỏi kéo dài, chướng bụng và phù hai chân khiến việc đi lại rất khó khăn.

Khi nhập viện, kết quả thăm khám cho thấy bệnh nhân đã rơi vào tình trạng suy tim nặng, kèm rối loạn nhịp tim dạng rung nhĩ, giãn buồng thất trái và chức năng co bóp cơ tim chỉ còn 40% (trong khi bình thường trên 50%). Đồng thời, bệnh nhân còn xuất hiện suy gan và suy thận giai đoạn 3B.

Theo bác sỹ Phạm Phong Luân, người trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, phần lớn bệnh nhân mắc bệnh van tim thường chấp nhận phẫu thuật khi có chỉ định. Trường hợp sống chung với lá van hư hỏng nặng trong nhiều năm dẫn tới tổn thương đa cơ quan như bà Tân khá hiếm gặp.

Nguyên nhân gây hở van hai lá ở bệnh nhân là do đứt dây chằng van tim. Trong cấu trúc tim, van hai lá được giữ ổn định nhờ hệ thống dây chằng và cột cơ. Khi các dây chằng này bị đứt, lá van không còn khép kín hoàn toàn, khiến máu phụt ngược trở lại buồng tim và làm giảm hiệu quả bơm máu.

Khi tình trạng hở van kéo dài mà không được xử lý triệt để, tim phải hoạt động quá sức để bù trừ. Lâu dần, tim suy yếu và không còn đủ khả năng bơm máu đến các cơ quan quan trọng. Thận không nhận đủ lượng máu cần thiết sẽ suy giảm chức năng lọc. Đồng thời, máu bị ứ trệ tại hệ tĩnh mạch, đặc biệt ở gan, gây tổn thương tế bào gan, thậm chí dẫn đến xơ gan và rối loạn chức năng gan.

“Càng để suy tim kéo dài, nguy cơ tổn thương gan và thận càng tăng”, bác sỹ Luân nhấn mạnh. Trước tình trạng bệnh đã tiến triển nặng, các bác sỹ buộc phải chỉ định phẫu thuật thay van tim - phương án điều trị tối ưu nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong trường hợp của bà Tân.

Theo các bác sỹ, bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ như buồng tim trái giãn lớn, suy gan, suy thận, tăng áp lực động mạch phổi và thể trạng suy kiệt. Những yếu tố này có thể khiến bệnh nhân tụt huyết áp hoặc ngừng tim trong quá trình phẫu thuật.

Đặc biệt, trong phẫu thuật tim hở, bác sỹ phải làm liệt tim tạm thời và sử dụng máy tim phổi nhân tạo để duy trì tuần hoàn. Vì vậy, ê kíp phẫu thuật đã tính toán kỹ lưỡng nhằm rút ngắn tối đa thời gian ngừng tim, đồng thời bố trí đội ngũ hồi sức túc trực xuyên suốt để kịp thời xử lý mọi tình huống phát sinh.

Trong quá trình phẫu thuật, các bác sỹ ghi nhận van hai lá của bệnh nhân đã bị đứt gần hết dây chằng, lá van co rút nặng nên quyết định thay van hai lá cơ học. Đồng thời, van ba lá cũng được sửa chữa do bị hở nặng. Nhờ thao tác chính xác, thời gian ngừng tuần hoàn cho thì chính của cuộc mổ chưa đến 60 phút và ca phẫu thuật diễn ra an toàn.

Giai đoạn hậu phẫu cũng được theo dõi chặt chẽ do nguy cơ biến chứng cao. Sau 5 ngày điều trị tích cực, tình trạng bệnh nhân cải thiện rõ rệt: chức năng co bóp tim tăng lên 45%, chức năng gan cải thiện đáng kể và chức năng thận gần như trở về mức bình thường. Bệnh nhân sau đó được chuyển ra khỏi phòng hồi sức tích cực.

Theo các chuyên gia tim mạch, hở van hai lá là một trong những bệnh lý van tim khá phổ biến nhưng tiến triển âm thầm trong thời gian dài. Những trường hợp hở van nhẹ thường chỉ cần theo dõi và siêu âm tim định kỳ mỗi năm. Tuy nhiên, khi bệnh tiến triển đến mức trung bình hoặc nặng, người bệnh cần được đánh giá nguyên nhân và điều trị triệt để để ngăn ngừa biến chứng.

Đặc biệt, khi xuất hiện các dấu hiệu như khó thở, mệt mỏi kéo dài, tim đập nhanh, buồng tim giãn lớn hoặc chức năng tim suy giảm, người bệnh cần được can thiệp bằng phẫu thuật sửa hoặc thay van tim. Việc trì hoãn điều trị có thể khiến bệnh tiến triển thành suy tim nặng, kéo theo tổn thương nhiều cơ quan khác trong cơ thể.

Các bác sỹ khuyến cáo những người trên 60 tuổi hoặc có yếu tố nguy cơ tim mạch như tiền sử nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim, bệnh cơ tim giãn nở, cơ tim phì đại hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh tim nên tầm soát định kỳ. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời không chỉ giúp giảm nguy cơ biến chứng mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

AI hỗ trợ phẫu thuật xoang ít xâm lấn

Ứng dụng hệ thống định vị tích hợp trí tuệ nhân tạo trong phẫu thuật nội soi mũi xoang đang mở ra hướng tiếp cận chính xác hơn, giúp giảm xâm lấn, rút ngắn thời gian mổ và tăng mức độ an toàn cho người bệnh. Công nghệ này đặc biệt có ý nghĩa trong các trường hợp viêm xoang tái phát, giải phẫu phức tạp hoặc tổn thương nằm sát những cấu trúc quan trọng của não và mắt.

Theo GS.TS.BS Trần Phan Chung Thủy, chuyên khoa tai mũi họng, kết quả so sánh giữa phẫu thuật nội soi mũi xoang có hệ thống định vị tích hợp trí tuệ nhân tạo và phẫu thuật nội soi thông thường từ tháng 6 đến tháng 12/2025 cho thấy nhiều lợi thế rõ rệt.

Với hệ thống định vị AI Neuro-Navigation Curve BrainLAB, thời gian phẫu thuật trung bình khoảng 87,8 phút, lượng máu mất khoảng 22 ml và thời gian nằm viện sau mổ khoảng 2,1 ngày. Trong khi đó, phẫu thuật nội soi mũi xoang thông thường có thời gian mổ trung bình 100-130 phút, lượng máu mất khoảng 50-150 ml và người bệnh thường phải nằm viện 3-4 ngày.

Khác với phương pháp trước đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của phẫu thuật viên, hệ thống định vị ba chiều tích hợp AI cho phép theo dõi chính xác vị trí dụng cụ trong phẫu trường theo thời gian thực.

Công nghệ này đồng bộ dữ liệu hình ảnh từ CT hoặc MRI, tái tạo cấu trúc giải phẫu ba chiều trên màn hình, giúp bác sỹ xác định chính xác vùng cần can thiệp, loại bỏ bệnh tích và giảm tối đa nguy cơ tổn thương các cấu trúc quan trọng lân cận.

Trong phẫu thuật mũi xoang, điều này đặc biệt quan trọng bởi các xoang nằm sát nhiều cấu trúc nhạy cảm như ổ mắt, sàn sọ, động mạch sàng trước hay thần kinh thị giác. Chỉ cần sai lệch vài milimet cũng có thể gây biến chứng nghiêm trọng như tổn thương thị lực hoặc rò dịch não tủy.

Thống kê trong nhóm bệnh nhân được phẫu thuật bằng hệ thống định vị cho thấy tuổi trung bình của người bệnh là 38,2 ở nam và 49,4 ở nữ; khoảng 33% trường hợp là viêm xoang tái phát sau khi từng phẫu thuật nội soi trước đó 5-10 năm, còn lại 67% là các ca phẫu thuật lần đầu. Nhiều trường hợp có biến đổi cấu trúc giải phẫu phức tạp như khuyết xương giấy, ăn mòn hốc mắt hoặc tổn thương thành sau xoang trán.

Một trong những trường hợp điển hình là anh Nam, 40 tuổi, bị viêm xoang tái phát kéo dài và đã từng phẫu thuật trước đó do u nhầy xoang biến chứng xâm lấn hốc mắt. Gần một năm trở lại đây, bệnh tái phát liên tục khiến hốc mắt sưng to và thị lực giảm. Hình ảnh chụp CT cho thấy tổn thương lấp đầy xoang trán và xoang sàng trước bên trái, đồng thời làm mòn thành ngoài của các xoang này.

Theo GS Chung Thủy, viêm đa xoang kéo dài khiến mô viêm ăn mòn xương giấy - lớp xương rất mỏng, dày chưa tới 1 mm - tạo thành lỗ thông giữa xoang và hốc mắt. Khi đó, lớp mỡ ổ mắt có thể bị lộ ra và khối viêm chèn ép vào vùng sâu trong hốc mắt, gây nguy cơ viêm mô tế bào ổ mắt hoặc áp xe ổ mắt nếu không được xử lý kịp thời.

Trước phẫu thuật, hình ảnh CT của người bệnh được tải lên hệ thống định vị ba chiều. Công nghệ AI đồng bộ dữ liệu giải phẫu và tái tạo hình ảnh 3D, cho phép êkíp phẫu thuật quan sát đồng thời màn hình nội soi và màn hình định vị.

Nhờ đó, các bác sỹ có thể mở rộng xoang trán, loại bỏ mô viêm và hút sạch mủ trong xoang một cách chính xác. Trong ca mổ, êkíp đã lấy ra một khối mủ đặc dài khoảng 3 cm trong lòng xoang trán. Sau phẫu thuật, tình trạng đau hốc mắt của người bệnh giảm rõ rệt, thị lực được bảo tồn và bệnh nhân xuất viện chỉ sau một ngày.

Một trường hợp khác là bà Thị, 70 tuổi, bị đau đầu dữ dội và lồi mắt kéo dài hơn một năm, ban đầu nghi ngờ u não nhưng điều trị không cải thiện. Kết quả chụp MRI cho thấy tổn thương lấp hoàn toàn xoang trán bên trái, kèm u nhầy xoang trán nằm sát sàn sọ và gần hốc mắt.

U nhầy xoang trán làm tăng áp lực trong xoang, kích thích các dây thần kinh xung quanh và gây đau đầu kéo dài. Khối u cũng làm mỏng và ăn mòn thành sau xoang trán - khu vực sát não - khiến cơn đau lan lên vùng trán và đỉnh đầu. Đồng thời, khối tổn thương chèn ép hốc mắt trong thời gian dài gây lồi mắt và nghẹt mũi.

Trường hợp này còn phức tạp hơn khi người bệnh có cấu trúc xoang bất thường, đường dẫn lưu xoang trán hẹp và xương trán bị canxi hóa. Nếu không có hệ thống định vị hỗ trợ, khả năng cao bác sỹ phải thực hiện phẫu thuật mở để tiếp cận khối u, đồng nghĩa với mức độ xâm lấn lớn hơn và thời gian hồi phục dài hơn.

Nhờ hệ thống định vị tích hợp trí tuệ nhân tạo, êkíp đã thực hiện phẫu thuật nội soi mở xoang trán và lấy u nhầy theo hướng tiếp cận nghiêng, kết hợp camera nội soi để loại bỏ toàn bộ mô viêm mà vẫn bảo tồn được các cấu trúc quan trọng xung quanh. Sau ba ngày hậu phẫu, sức khỏe người bệnh ổn định và được xuất viện. Một tháng sau tái khám, các triệu chứng đau đầu, lồi mắt và nghẹt mũi đều biến mất.

Theo khuyến cáo của Hội Tai Mũi Họng - Phẫu thuật đầu cổ Hoa Kỳ (AAO-HNS), hệ thống định vị nên được sử dụng trong các trường hợp phẫu thuật xoang phức tạp như mổ lại nhiều lần, giải phẫu bất thường, bệnh tích lan rộng hoặc tổn thương nằm gần các cấu trúc nguy cơ cao như ổ mắt, sàn sọ, thần kinh thị giác hay động mạch cảnh trong. Công nghệ này cũng được chỉ định trong các trường hợp rò dịch não tủy, khuyết sàn sọ hoặc u mũi xoang.

Theo các chuyên gia, sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo trong phẫu thuật không chỉ giúp tăng độ chính xác mà còn mở ra hướng tiếp cận an toàn hơn đối với nhiều bệnh lý tai mũi họng phức tạp.

Trong bối cảnh tỷ lệ viêm xoang ngày càng tăng do ô nhiễm môi trường và các yếu tố dị ứng, việc ứng dụng các công nghệ phẫu thuật tiên tiến đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.

Coi chừng “tiền mất, tật mang” khi tự ý dùng thuốc nam
Tự ý sử dụng thuốc nam truyền miệng, không rõ nguồn gốc đang trở thành một nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư