Thứ Bảy, Ngày 14 tháng 02 năm 2026,
Bổ sung chính sách hỗ trợ sinh đủ 2 con, khuyến khích phụ nữ sinh trước 35 tuổi
D.Ngân - 14/02/2026 17:16
 
Mỗi cá nhân, cặp vợ chồng được tạo điều kiện chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời điểm và khoảng cách sinh con nhằm nâng cao chất lượng dân số.

Phó Thủ tướng chính phủ Lê Thành Long đã ký Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/2/2026 phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030”, đặt mục tiêu gia tăng mức sinh bền vững, bổ sung chính sách hỗ trợ sinh đủ hai con và khuyến khích phụ nữ sinh con trước 35 tuổi nhằm bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh nhiều địa phương có mức sinh xuống thấp, nguy cơ già hóa dân số diễn ra nhanh, Chương trình xác định rõ yêu cầu phải đạt và duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước.

Đến năm 2049, Việt Nam được dự báo sẽ thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn, kéo theo nhiều hệ lụy xã hội.

Mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh mỗi năm; trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp đầy đủ thông tin về kết hôn, sinh con để đạt mức sinh thay thế; 100% tỉnh, thành phố triển khai chính sách hỗ trợ sinh con, nuôi con.

Điểm nhấn của Chương trình là chuyển mạnh trọng tâm chính sách dân số sang dân số và phát triển, điều chỉnh định hướng từ “giảm sinh” sang “đạt và duy trì mức sinh thay thế”.

Việc gia tăng tỷ lệ sinh, đặc biệt tại các địa phương có mức sinh dưới mức thay thế, được xem là điều kiện quan trọng bảo đảm nguồn nhân lực lâu dài, là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững và sự trường tồn của dân tộc.

Để đạt mục tiêu này, Chương trình yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thay đổi nhận thức và hành vi; đồng thời rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định không còn phù hợp với yêu cầu duy trì mức sinh thay thế, đặc biệt là các quy định xử lý vi phạm chính sách dân số trước đây.

Đáng chú ý, Chương trình nhấn mạnh việc bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con, sinh đủ hai con; khuyến khích phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi.

Việc xây dựng chính sách được đặt trong tổng thể đánh giá tác động của các yếu tố lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế… đến xu hướng sinh ít con hiện nay, từ đó thiết kế các mô hình can thiệp phù hợp, khả thi.

Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách, các tỉnh, thành phố chủ động ban hành chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con, ưu tiên địa phương có mức sinh thấp và đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người.

Song song đó, Chương trình đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.

Cùng với hoàn thiện chính sách, công tác truyền thông được yêu cầu triển khai đa dạng, sinh động, thuyết phục hơn. Tăng cường hiệu quả truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội; phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng, người nổi tiếng trong các lĩnh vực chính trị, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, già làng, trưởng bản…

Đặc biệt, đẩy mạnh truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình và cộng đồng thông qua đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên, nhân viên y tế thôn, bản.

Chương trình cũng đặt trọng tâm mở rộng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ cho mọi người dân, không phân biệt giới tính hay tình trạng hôn nhân.

Mỗi cá nhân, cặp vợ chồng được tạo điều kiện chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời điểm và khoảng cách sinh con nhằm nâng cao chất lượng dân số. Đồng thời, xây dựng và triển khai các mô hình dự phòng vô sinh tại cộng đồng, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và phát triển mạng lưới hỗ trợ sinh sản.

Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, các loại hình cung cấp dịch vụ được tổ chức phù hợp; tăng cường tư vấn, kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm và phòng tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh con dị tật hoặc mắc bệnh, tật ảnh hưởng đến chất lượng dân số.

Theo báo cáo “Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074” do Cục Thống kê công bố mới đây, tốc độ tăng dân số của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần, thời kỳ dân số vàng sẽ khép lại vào năm 2036. Đáng chú ý, đến năm 2049, Việt Nam được dự báo sẽ thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn, kéo theo nhiều hệ lụy xã hội.

Báo cáo được xây dựng dựa trên kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, đồng thời dự báo quy mô dân số của cả nước, khu vực thành thị, nông thôn, 6 vùng kinh tế - xã hội và 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2024-2074.

Theo Cục Thống kê, dân số Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trong các thập kỷ tới nhưng tốc độ tăng sẽ giảm dần và dự kiến đạt đỉnh vào khoảng năm 2059 theo phương án mức sinh trung bình, trước khi chuyển sang giai đoạn tăng chậm, ổn định hoặc suy giảm.

Trong 50 năm tới, với ba kịch bản mức sinh gồm mức sinh thấp (1,45 con/phụ nữ), mức sinh trung bình (1,85 con/phụ nữ) và mức sinh cao (2,01 con/phụ nữ), dân số Việt Nam dự kiến tăng lần lượt 2,5%, 12,7% và 17%, đạt quy mô tương ứng 103,9 triệu; 114,2 triệu và 118,5 triệu người vào năm 2074.

Cụ thể, theo phương án trung bình, giai đoạn 2024-2029, tỷ lệ tăng dân số bình quân hằng năm đạt 0,66%. Sau đó, tốc độ tăng giảm dần và đến năm 2060 sẽ chạm mức 0%. Từ năm 2061 trở đi, dân số bắt đầu giảm.

Nếu mức sinh giảm theo phương án thấp, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn tăng trưởng dân số âm sớm hơn, ngay từ năm 2051, tức sớm hơn khoảng 10 năm so với phương án trung bình.

Đáng lo ngại, mức giảm dân số diễn ra nhanh và ngày càng mạnh: Giai đoạn 2049-2054, dân số giảm bình quân 0,05% mỗi năm; đến giai đoạn 2069-2074, mức giảm lên tới 0,44% mỗi năm, tương đương khoảng 461.000 người/năm.

Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đang nỗ lực xây dựng các chính sách nhằm duy trì mức sinh thay thế. Theo kịch bản mức sinh cao, dân số Việt Nam vẫn tăng nhẹ đến năm 2074, với mức tăng bình quân 0,05% mỗi năm trong giai đoạn 2069-2074, tương đương khoảng 58 nghìn người/năm.

Kết quả dự báo cho thấy tỷ số giới tính chung của dân số Việt Nam trong những năm tới vẫn duy trì ở mức tương đối cân bằng. Đến năm 2029, cả ba kịch bản đều dự báo tỷ số giới tính đạt khoảng 99,8 nam trên 100 nữ. Tuy nhiên, về dài hạn, tỷ lệ nữ trong dân số có xu hướng nhỉnh hơn nam.

Dù vậy, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, xuất hiện từ khoảng năm 2005 đã và đang để lại những hệ lụy rõ nét. Điều tra dân số giữa kỳ năm 2024 cho thấy số nam giới trong độ tuổi kết hôn hiện nhiều hơn nữ giới cùng nhóm tuổi khoảng 415,2 nghìn người.

Theo kịch bản dân số trung bình, đến năm 2029, cứ 100 nam giới trong độ tuổi kết hôn (20-39 tuổi) thì có hơn 3 người không tìm được phụ nữ cùng nhóm tuổi. Đến năm 2034, số nam giới dư thừa trong độ tuổi kết hôn tăng lên 711,7 nghìn người, tương đương 4,9% dân số nam từ 20-39 tuổi.

Tình trạng này tiếp tục gia tăng và đạt đỉnh vào năm 2049, khi Việt Nam được dự báo thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn, tương ứng 8,7% nam giới cùng độ tuổi.

Sau thời điểm này, tình trạng dư thừa nam giới có xu hướng giảm dần do giả định tỷ số giới tính khi sinh từng bước trở lại cân bằng, song đến năm 2074 vẫn còn khoảng 829.000 nam giới trong độ tuổi kết hôn nhiều hơn nữ giới.

Theo các chuyên gia, sự thiếu hụt phụ nữ trong độ tuổi kết hôn có thể làm gia tăng tính dễ tổn thương của một bộ phận phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là nguy cơ bị bạo lực, bóc lột tình dục và buôn bán người, trong bối cảnh cạnh tranh tìm kiếm bạn đời của nam giới ngày càng gay gắt. Đây là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt trong hoạch định chính sách dân số, giới và an sinh xã hội.

Báo cáo cũng cho biết thời kỳ cơ cấu dân số vàng của Việt Nam, giai đoạn cứ hai người trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) “gánh” một người phụ thuộc sẽ kết thúc vào năm 2036. Sau mốc này, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già và tiến tới dân số siêu già, với sự thu hẹp nhanh của các nhóm tuổi trẻ và trung niên, trong khi nhóm dân số cao tuổi gia tăng mạnh.

Cùng với đó, di cư nội địa tiếp tục là yếu tố quan trọng làm thay đổi phân bố dân cư giữa các vùng, phản ánh sự khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng thu hút, sử dụng lao động của từng địa phương.

Trước thực trạng mức sinh tại Việt Nam đang giảm nhanh và có nguy cơ xuống thấp kéo dài, Bộ Y tế kêu gọi các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sinh đủ hai con nhằm bảo đảm quy mô dân số hợp lý, duy trì nguồn nhân lực và phát triển bền vững đất nước trong những thập niên tới.

Đầu tư cho sức khỏe sinh sản, nâng cao chất lượng dân số Việt
Trước những thách thức về mức sinh và chất lượng dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản và hỗ trợ điều trị hiếm muộn đang trở thành một...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư