-
Quảng Ninh triển khai xe bus điện miễn phí đưa đón học sinh đến trường -
Báo Tài chính - Đầu tư nối dài hành trình “Vì trẻ em Việt Nam” tại Trường Đại học Giao thông vận tải -
Quảng Ninh triển khai xe buýt điện miễn phí đưa đón học sinh -
Đổi mới giáo dục bắt đầu từ những thay đổi trong lớp học -
Hà Nội điều chỉnh giao thông khi thông xe tạm Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT ngày 17/2/2025 quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học để lấy ý kiến góp ý, với nhiều thay đổi đáng chú ý về phạm vi chương trình phải kiểm định định kỳ, trách nhiệm tự bảo đảm chất lượng của cơ sở đào tạo và phương thức theo dõi chất lượng dựa trên dữ liệu.
Dự thảo nhằm cụ thể hóa quy định mới của Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, đồng thời điều chỉnh những nội dung của quy định hiện hành chưa còn phù hợp với thực tiễn.
![]() |
| Luật Giáo dục đại học quy định chương trình thuộc các ngành đào tạo giáo viên, lĩnh vực sức khỏe và pháp luật phải thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục định kỳ. |
Điểm đáng chú ý nằm ở việc kiểm định không còn được đặt trong logic càng nhiều chương trình được kiểm định càng tốt, mà hướng nguồn lực vào những chương trình cần được kiểm chứng chất lượng định kỳ, trong lúc trách nhiệm bảo đảm chất lượng vẫn bao phủ toàn bộ hoạt động đào tạo. Ranh giới giữa chương trình thuộc diện kiểm định bắt buộc và chương trình không bắt buộc vì vậy không đồng nghĩa với ranh giới giữa chương trình phải chịu và không phải chịu sự giám sát về chất lượng.
Luật Giáo dục đại học quy định chương trình thuộc các ngành đào tạo giáo viên, lĩnh vực sức khỏe và pháp luật phải thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục định kỳ. Với những ngành, lĩnh vực còn lại, dự thảo xác định chương trình phải kiểm định dựa trên các căn cứ cụ thể, gồm chương trình thuộc ngành, lĩnh vực được Nhà nước ưu tiên phát triển và có sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước; chương trình tổ chức theo một số hình thức, phương thức hoặc cơ chế đào tạo cần tăng cường kiểm chứng chất lượng bên ngoài; chương trình có vi phạm về điều kiện bảo đảm chất lượng, tổ chức hoặc quản lý đào tạo đã được cơ quan có thẩm quyền xác định qua kiểm tra.
Một thay đổi quan trọng trong Dự thảo là không xây dựng danh mục cố định dựa trên tên hoặc mã ngành, không yêu cầu kiểm định đồng loạt toàn bộ chương trình đào tạo và cũng không áp dụng một tỷ lệ kiểm định bắt buộc chung cho toàn hệ thống giáo dục đại học. Chương trình thuộc diện phải kiểm định sẽ được xác định bằng những căn cứ có thể kiểm tra, đối chiếu, qua đó tập trung hoạt động kiểm định vào những lĩnh vực cần sự giám sát chặt chẽ hơn thay vì phân tán nguồn lực theo một tỷ lệ mang tính đồng loạt.
Việc các chương trình đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật thuộc diện kiểm định định kỳ cũng cho thấy yêu cầu kiểm chứng chất lượng được đặt cao đối với những lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp và rộng tới xã hội.
Chất lượng một chương trình đào tạo giáo viên không dừng lại ở kết quả của sinh viên tốt nghiệp mà tiếp tục tác động đến nhiều thế hệ học sinh; chất lượng đào tạo nhân lực y tế gắn với sức khỏe, tính mạng người bệnh; còn đào tạo pháp luật liên quan trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực tham gia hoạt động pháp lý, quản lý và thực thi pháp luật.
Với những ngành khác, thay vì đưa tất cả vào một quy trình giống nhau, dự thảo gắn yêu cầu kiểm định với mức độ ưu tiên phát triển, nguồn lực ngân sách nhà nước được sử dụng, đặc thù của phương thức đào tạo và những vấn đề đã xuất hiện trong quá trình bảo đảm chất lượng. Nguồn lực kiểm định nhờ đó có thể tập trung vào các chương trình cần đánh giá từ bên ngoài nhiều hơn, trong lúc cơ sở đào tạo có thêm tính chủ động đối với những chương trình còn lại.
Sự chủ động ấy không đi cùng việc nới lỏng trách nhiệm. Chương trình không thuộc diện phải kiểm định định kỳ vẫn phải thực hiện đầy đủ yêu cầu về bảo đảm chất lượng, tự đánh giá, cải tiến, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình theo Luật Giáo dục đại học. Cơ sở đào tạo cũng có quyền chủ động lựa chọn chương trình để thực hiện kiểm định dựa trên chiến lược phát triển, kết quả đánh giá và nhu cầu cải tiến chất lượng.
Thay đổi đáng chú ý khác nằm ở phương thức theo dõi chương trình. Chất lượng đào tạo không chỉ được nhìn qua trạng thái "đã kiểm định" hay "chưa kiểm định", mà được đặt trong một dòng dữ liệu rộng hơn, gồm dữ liệu bảo đảm chất lượng, kết quả thực hiện chuẩn đầu ra, kết quả tự đánh giá và cải tiến, tình trạng kiểm định cùng các thông tin liên quan. Từ nguồn dữ liệu đó, cơ quan quản lý có thêm căn cứ nhận diện vấn đề, xác định trọng tâm cần giám sát và áp dụng biện pháp quản lý phù hợp với thẩm quyền.
Một chương trình đào tạo có thể được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định tại một thời điểm, song chất lượng không bất biến trong suốt nhiều năm tiếp theo.
Đội ngũ giảng viên thay đổi, yêu cầu nghề nghiệp biến chuyển, công nghệ liên tục tạo ra những kỹ năng mới, còn chuẩn đầu ra nếu không được rà soát và cập nhật có thể nhanh chóng tụt lại phía sau nhu cầu của thị trường lao động. Vì vậy, giá trị thực chất của kiểm định nằm nhiều hơn ở khả năng thúc đẩy một chu trình tự đánh giá, phát hiện hạn chế và cải tiến liên tục, thay vì hoàn thành một bộ hồ sơ để đạt chứng nhận.
Chuẩn đầu ra vì thế trở thành một mắt xích quan trọng trong quản trị chất lượng. Một chương trình được xây dựng với mục tiêu tốt nhưng sinh viên tốt nghiệp không đạt được những năng lực đã công bố thì khoảng cách giữa cam kết và kết quả cần phải được nhận diện; tương tự, hoạt động tự đánh giá sẽ khó tạo ra giá trị nếu những hạn chế được chỉ ra nhưng không dẫn tới thay đổi về chương trình, đội ngũ, phương pháp giảng dạy hoặc các điều kiện bảo đảm chất lượng.
Dữ liệu cũng mở ra khả năng giám sát theo chiều sâu hơn. Thay vì chờ đến một chu kỳ kiểm định mới để nhìn lại toàn bộ chương trình, những biến động về chuẩn đầu ra, tự đánh giá, cải tiến và tình trạng bảo đảm chất lượng có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm vấn đề, đồng thời tạo áp lực để cơ sở đào tạo duy trì trách nhiệm chất lượng trong suốt quá trình tổ chức đào tạo.
Bên cạnh đó, Dự thảo cũng tính đến quá trình chuyển tiếp nhằm tránh tạo ra một đợt kiểm định đồng loạt sau thời điểm quy định mới có hiệu lực. Các chương trình đã được công nhận và còn thời hạn tiếp tục được công nhận đến hết thời hạn; chương trình chưa được kiểm định sẽ có thời gian thực hiện khác nhau tùy tình trạng đã có hoặc chưa có người học tốt nghiệp; chương trình đang tiến hành kiểm định cũng được bố trí lộ trình phù hợp.
Cùng với việc điều chỉnh phạm vi và lộ trình kiểm định, một số quy định, tiêu chí và mẫu báo cáo tự đánh giá cũng được sửa đổi nhằm khắc phục nội dung còn thiếu, trùng lặp và giảm những vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Được biết, bức tranh tuyển sinh đại học năm 2026 đang cho thấy những thay đổi đáng chú ý không chỉ ở quy mô tuyển sinh, phương thức tổ chức mà quan trọng hơn là lựa chọn ngành nghề của người học. Những ngành gắn với trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, bán dẫn, máy tính, điện - điện tử, tự động hóa và công nghệ cao ngày càng thu hút thí sinh, trong khi cơ cấu nguồn tuyển bắt đầu dịch chuyển theo những lĩnh vực được xác định là động lực phát triển mới của nền kinh tế.
Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá, điểm đáng ghi nhận đầu tiên là công tác tuyển sinh năm nay được chuẩn bị từ sớm, quy chế được ban hành kịp thời và yêu cầu kiểm soát chất lượng đầu vào chặt chẽ hơn.
Một thay đổi đáng chú ý từ năm 2026 là nguồn xét tuyển vào đại học phải đạt tối thiểu 15 điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông đối với tổ hợp ba môn. Ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào cụ thể của từng ngành do cơ sở đào tạo xác định và công bố.
Đối với các lĩnh vực đặc thù, yêu cầu đầu vào cao hơn. Các ngành đào tạo giáo viên trình độ đại học có ngưỡng 20 điểm; riêng Giáo dục thể chất, Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật là 19 điểm đối với tổ hợp ba môn văn hóa. Y khoa và Răng - Hàm - Mặt có ngưỡng 22 điểm; Y học cổ truyền và Dược học 20 điểm; Điều dưỡng, Y học dự phòng, Hộ sinh và các ngành kỹ thuật y học liên quan 18 điểm; lĩnh vực pháp luật 20 điểm.
Cùng với siết yêu cầu đầu vào, tuyển sinh đại học tiếp tục được số hóa sâu hơn. 100% thí sinh đăng ký tuyển sinh đại học trực tuyến; các khâu xét tuyển, nộp lệ phí và đăng ký nhập học được thực hiện trên hệ thống số. Dữ liệu được làm sạch, đối soát và sử dụng xuyên suốt, thay cho cách xử lý những bộ hồ sơ rời rạc.
Đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận định, đây là sự chuyển đổi từ quản lý một kỳ tuyển sinh mang tính hành chính sang quản trị toàn bộ quy trình tuyển sinh bằng dữ liệu. Nếu số hóa và kiểm soát chất lượng đầu vào là những thay đổi về phương thức quản lý, sự dịch chuyển trong lựa chọn ngành nghề mới là điểm nổi bật của mùa tuyển sinh năm nay.
-
Giảm kiểm định đại trà, tăng trách nhiệm giải trình của đại học -
Hà Nội điều chỉnh giao thông khi thông xe tạm Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục -
[Ảnh] TP.HCM rực sáng pháo hoa tại nhiều điểm mừng 81 năm Quốc khánh -
Sắp xếp lại trường học để học sinh được hưởng lợi -
Tạo đột phá nguồn nhân lực chất lượng cao từ giáo dục đại học -
Thống nhất sách giáo khoa, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh -
Khi di sản trở thành nhịp cầu kết nối Việt Nam với thế giới
-
Một mã QR, đa dạng đầu vào: VPBank SME mở cơ hội đón khách quốc tế cho doanh nghiệp Việt -
Phú Tài công bố việc góp vốn 950.000 USD, lập công ty con đầu tư tại Mỹ -
Công ty xi măng Long Sơn chúc mừng ngày Quốc khánh 2/9 -
Vận hành tích hợp là nền tảng của sản xuất thông minh -
LOTTE MART Bắc Giang tung loạt ưu đãi lớn dịp Quốc khánh 2/9 -
Vedan đóng góp trồng 1.000 cây xanh tại TP. Đồng Nai

