-
VinCons ghi dấu ấn mạnh tại các siêu dự án tỷ đô, khẳng định vị thế tổng thầu xây dựng hàng đầu Việt Nam -
Sắt thép, sản phẩm gỗ, vật liệu dẫn đầu danh sách rủi ro phòng vệ -
Đắk Lắk xây dựng lộ trình đưa doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế -
Trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Công ty Quản lý tài sản Viettel (Viettel Asset) -
9 tháng đầu năm 2026: PVFCCo - Phú Mỹ duy trì đà tăng trưởng, mở rộng không gian phát triển -
TP.HCM xây dựng cơ chế đồng hành cùng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
![]() |
| Công nhân làm việc trong nhà máy dệt may tại TP.HCM. Ảnh: Lê Toàn |
Thông tin này vừa được đưa ra tại "Báo cáo đánh giá tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với một số ngành công nghiệp chính của Việt Nam, đề xuất khuyến nghị chính sách và giải pháp cho phục hồi và phát triển thời kỳ hậu Covid-19" do Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương) thực hiện.
Cụ thể theo Báo cáo, dịch Covid-19 làm cho tình hình kinh tế Việt Nam gặp khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị đình trệ.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn chịu áp lực từ các khoản chi phí rất lớn để duy trì hoạt động như: chi phí thuê mặt bằng, chi trả lãi vay ngân hàng, trả công cho lao động, chi phí thường xuyên khác…
Nhiều doanh nghiệp đã phải áp dụng các giải pháp tạm thời như cắt giảm lao động, cho lao động nghỉ việc không lương, giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm lương lao động, thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động.
Do tác động của dịch Covid, có tới 66,8% số doanh nghiệp phải áp dụng các giải pháp liên quan đến lao động.
Giải pháp cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên có 39,5% doanh nghiệp lựa chọn, cao nhất trong các giải pháp về lao động; có 28,4% doanh nghiệp áp dụng giải pháp cắt giảm lao động; 21,3% doanh nghiệp cho lao động nghỉ không lương và 18,9% doanh nghiệp giảm lương lao động.
Trong khi trả công lao động là gánh nặng lớn nhất của doanh nghiệp lúc này thì mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp hiện thời là thị trường tiêu thụ bị thu hẹp.
Về vấn đề này, có tới 57,7% số doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cho rằng, thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh.
Đáng chú ý, trong các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, có tới 47,2% doanh nghiệp khẳng định hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được. Giai đoạn hiện nay, thị trường tiêu thụ trong nước và thị trường xuất khẩu đều gặp khó khăn.
Đây là hệ quả tất yếu khi đại dịch bùng phát, người dân Việt Nam và các nước thuộc thị trường xuất khẩu truyền thống của nước ta (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật..) phải thực hiện giãn cách xã hội, lao động mất việc làm, thu nhập giảm sút nên nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh.
![]() |
| Tỷ lệ doanh nghiệp bị tác động đến thị trường tiêu thụ |
Nếu xét theo loại hình thì có 61,2% doanh nghiệp FDI chịu tác động từ thị trường tiêu thụ và có đến 53,8% doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu không xuất khẩu được hàng hóa.
Theo sau thách thức về trả công lao động và thị trường tiêu thụ thì câu chuyện thiếu nguyên liệu đầu vào vẫn tiếp diễn.
Dịch Covid-19 càng kéo dài, nguyên vật liệu đầu vào dự trữ của doanh nghiệp càng cạn kiệt.
Đây là vấn đề dễ dàng nhận thấy khi thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam đều là các nước phải hứng chịu hậu quả nặng nề từ dịch như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản (điều này thể hiện rõ nhất trong giai đoạn đầu dịch Covid-19 bùng phát mạnh ở Trung Quốc)…
Tại thời điểm điều tra, đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành may mặc và da giầy cần sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ doanh nghiệp thiếu hụt lên tới 70,3% đối với ngành may mặc và 71,0% đối với ngành da giày.
Ngành sản xuất các sản phẩm điện tử và sản xuất ô tô có tỷ lệ thiếu hụt nguyên vật liệu nhập khẩu lần lượt là 62,1% và 58,1%.
Các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động từ dịch Covid-19 càng cao. Điều này có thể lý giải, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, có chuỗi giá trị liên kết trong nước và quốc tế chặt chẽ, rộng hơn nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ sẽ chịu tác động lan tỏa nhiều hơn khi dịch bệnh bùng phát trên phạm vi toàn cầu.
Nhóm doanh nghiệp lớn (hiện chiếm 2,8% tổng số doanh nghiệp) là nhóm có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động nhiều nhất với 92,8%.
Theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI là đối tượng đang chịu nhiều tác động của dịch Covid-19 nhất, với 88,7%.
-
VinCons ghi dấu ấn mạnh tại các siêu dự án tỷ đô, khẳng định vị thế tổng thầu xây dựng hàng đầu Việt Nam -
Sắt thép, sản phẩm gỗ, vật liệu dẫn đầu danh sách rủi ro phòng vệ -
Đắk Lắk xây dựng lộ trình đưa doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế -
Trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Công ty Quản lý tài sản Viettel (Viettel Asset)
-
9 tháng đầu năm 2026: PVFCCo - Phú Mỹ duy trì đà tăng trưởng, mở rộng không gian phát triển -
TP.HCM xây dựng cơ chế đồng hành cùng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo -
CAEX hoàn tất thẩm định An toàn hệ thống thông tin cấp độ 4 -
Petrovietnam hợp tác với các doanh nghiệp Đan Mạch phát triển điện gió ngoài khơi -
Doanh nghiệp cần đổi mới quản trị để đón dòng vốn và cơ hội tăng trưởng -
Cơ quan hải quan cảnh báo 14 nhóm rủi ro doanh nghiệp chế xuất cần lưu ý -
19 năm Piaggio tại Việt Nam: Giá trị FDI không chỉ đo bằng dòng vốn
-
Gemadept Run 2026: Hơn 6.000 vận động viên chung tay xây dựng điểm trường Thẳm Pao
-
NCB tài trợ và thu xếp vốn cho 2 dự án trọng điểm, góp phần kiến tạo diện mạo mới của TP.HCM
-
Công bố Top 10 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2026 - Ngành Tài chính - Chứng khoán
-
HĐQT SeABank phê duyệt điều chỉnh kế hoạch kinh doanh 2026 và bầu Chủ tịch HĐQT mới, kiện toàn nhân sự cấp cao
-
Cathay Life khẳng định năng lực kinh doanh trong 4 năm liên tiếp
-
Công bố Top 10 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam - Ngành Công nghệ - Viễn thông - Chuyển đổi số


