-
Quý đầu năm 2026, Hòa Phát sản xuất được 3,3 triệu tấn phôi thép -
VCCI: Sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam không dư thừa công suất mang tính hệ thống -
VOVO - Nền tảng thương mại điện tử được vinh danh “Thương hiệu Việt Nam ưu tiên tin dùng 2026” -
Petrovietnam và bài toán ổn định cung ứng xăng dầu trước biến động năng lượng toàn cầu -
Thuế xăng dầu về 0% từ 16/4, Hải quan ra công điện hỏa tốc triển khai -
Đắk Lắk: Vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới đạt hơn 6.000 tỷ đồng
![]() |
| Công nhân làm việc trong nhà máy dệt may tại TP.HCM. Ảnh: Lê Toàn |
Thông tin này vừa được đưa ra tại "Báo cáo đánh giá tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với một số ngành công nghiệp chính của Việt Nam, đề xuất khuyến nghị chính sách và giải pháp cho phục hồi và phát triển thời kỳ hậu Covid-19" do Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương) thực hiện.
Cụ thể theo Báo cáo, dịch Covid-19 làm cho tình hình kinh tế Việt Nam gặp khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị đình trệ.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn chịu áp lực từ các khoản chi phí rất lớn để duy trì hoạt động như: chi phí thuê mặt bằng, chi trả lãi vay ngân hàng, trả công cho lao động, chi phí thường xuyên khác…
Nhiều doanh nghiệp đã phải áp dụng các giải pháp tạm thời như cắt giảm lao động, cho lao động nghỉ việc không lương, giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm lương lao động, thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động.
Do tác động của dịch Covid, có tới 66,8% số doanh nghiệp phải áp dụng các giải pháp liên quan đến lao động.
Giải pháp cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên có 39,5% doanh nghiệp lựa chọn, cao nhất trong các giải pháp về lao động; có 28,4% doanh nghiệp áp dụng giải pháp cắt giảm lao động; 21,3% doanh nghiệp cho lao động nghỉ không lương và 18,9% doanh nghiệp giảm lương lao động.
Trong khi trả công lao động là gánh nặng lớn nhất của doanh nghiệp lúc này thì mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp hiện thời là thị trường tiêu thụ bị thu hẹp.
Về vấn đề này, có tới 57,7% số doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cho rằng, thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh.
Đáng chú ý, trong các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, có tới 47,2% doanh nghiệp khẳng định hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được. Giai đoạn hiện nay, thị trường tiêu thụ trong nước và thị trường xuất khẩu đều gặp khó khăn.
Đây là hệ quả tất yếu khi đại dịch bùng phát, người dân Việt Nam và các nước thuộc thị trường xuất khẩu truyền thống của nước ta (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật..) phải thực hiện giãn cách xã hội, lao động mất việc làm, thu nhập giảm sút nên nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh.
![]() |
| Tỷ lệ doanh nghiệp bị tác động đến thị trường tiêu thụ |
Nếu xét theo loại hình thì có 61,2% doanh nghiệp FDI chịu tác động từ thị trường tiêu thụ và có đến 53,8% doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu không xuất khẩu được hàng hóa.
Theo sau thách thức về trả công lao động và thị trường tiêu thụ thì câu chuyện thiếu nguyên liệu đầu vào vẫn tiếp diễn.
Dịch Covid-19 càng kéo dài, nguyên vật liệu đầu vào dự trữ của doanh nghiệp càng cạn kiệt.
Đây là vấn đề dễ dàng nhận thấy khi thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam đều là các nước phải hứng chịu hậu quả nặng nề từ dịch như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản (điều này thể hiện rõ nhất trong giai đoạn đầu dịch Covid-19 bùng phát mạnh ở Trung Quốc)…
Tại thời điểm điều tra, đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành may mặc và da giầy cần sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ doanh nghiệp thiếu hụt lên tới 70,3% đối với ngành may mặc và 71,0% đối với ngành da giày.
Ngành sản xuất các sản phẩm điện tử và sản xuất ô tô có tỷ lệ thiếu hụt nguyên vật liệu nhập khẩu lần lượt là 62,1% và 58,1%.
Các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động từ dịch Covid-19 càng cao. Điều này có thể lý giải, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, có chuỗi giá trị liên kết trong nước và quốc tế chặt chẽ, rộng hơn nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ sẽ chịu tác động lan tỏa nhiều hơn khi dịch bệnh bùng phát trên phạm vi toàn cầu.
Nhóm doanh nghiệp lớn (hiện chiếm 2,8% tổng số doanh nghiệp) là nhóm có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động nhiều nhất với 92,8%.
Theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI là đối tượng đang chịu nhiều tác động của dịch Covid-19 nhất, với 88,7%.
-
VCCI: Sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam không dư thừa công suất mang tính hệ thống -
VOVO - Nền tảng thương mại điện tử được vinh danh “Thương hiệu Việt Nam ưu tiên tin dùng 2026” -
Petrovietnam và bài toán ổn định cung ứng xăng dầu trước biến động năng lượng toàn cầu -
Thuế xăng dầu về 0% từ 16/4, Hải quan ra công điện hỏa tốc triển khai
-
Đắk Lắk: Vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới đạt hơn 6.000 tỷ đồng -
EVNHANOI tăng tốc số hóa dịch vụ điện -
Siết chặt quản lý nhân sự đại lý hải quan bằng định danh cá nhân -
TCBS: Lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.458 tỷ đồng -
Khẩn trương triển khai giảm thuế xăng dầu theo Nghị quyết 19 -
Lĩnh vực kinh doanh tại Việt Nam được doanh nghiệp Mỹ quan tâm -
VIMC sẽ góp 6.959 tỷ đồng thực hiện Dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ
-
Bách Khoa Việt Nam ghi danh tại FAST RISING 100, khẳng định hướng đi tăng trưởng bền vững -
SeABank dẫn đầu xu hướng bảo vệ tiền gửi bằng mã số bảo mật, nâng cao an toàn tài chính cho khách hàng
-
Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư và Xây lắp Tiến Thịnh: 15 năm vững tâm, vươn tầm -
Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam -
FPT ký hợp đồng AI hàng chục triệu USD với tập đoàn vật liệu hàng đầu thế giới -
Vì sao các đô thị vệ tinh phía Nam Hà Nội bắt đầu thu hút dòng tiền mới?


