Thứ Năm, Ngày 08 tháng 01 năm 2026,
Nhiều dư địa để tăng trưởng 2 con số
Mạnh Bôn - 06/01/2026 14:49
 
GS-TS. Hoàng Văn Cường, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng tin rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số không phải quá khó vì có rất nhiều dư địa.

“Ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng nhưng phải trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, nếu không, tăng trưởng kinh tế không còn nhiều ý nghĩa và phải đối mặt với rất nhiều hệ lụy”, GS-TS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.

GS-TS. Hoàng Văn Cường, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng

Một trong 3 lực kéo GDP là xuất khẩu đã về đích trước thời hạn và vượt mục tiêu đặt ra. Ông đánh giá thế nào về hoạt động này?

Năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập hàng hóa đạt trên 786 tỷ USD, tăng 15,4%, trong đó xuất khẩu 405,935 tỷ USD, tăng 14,3% đã là kỳ tích vô tiền khoáng hậu. Nhưng kỷ lục này đã sớm bị phá vỡ.

Theo số liệu của Cục Hải quan, tính đến ngày 15/12/2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt 883,72 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 451,18 tỷ USD, vượt quy mô của cả năm 2024 và tăng gần 17% so với cùng kỳ, vượt mục tiêu đặt ra để bảo đảm GDP tăng trưởng 8% là kim ngạch xuất khẩu tăng trên 12%.

Không phải năm 2025 hay năm 2024, mà trong rất nhiều năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu năm sau bao giờ cũng vượt năm trước (ngoại trừ năm 2023). Đây là điều rất đáng mừng, khẳng định vai trò, vị thế của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu, Việt Nam đã trở thành mắt xích vô cùng quan trọng trong chuỗi sản xuất và thương mại toàn cầu. Nhưng nền kinh tế quá phụ thuộc vào xuất khẩu tiềm ẩn nỗi lo trong tương lai khi xuất khẩu tăng trưởng chậm lại.

Trong nhiều năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu năm sau thường vượt năm trước. Ảnh: Đức Thanh

Lo lắng của ông phải chăng xuất phát từ xu hướng bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang trỗi dậy?

Xu hướng bảo vệ mậu dịch trên thế giới chỉ là một phần, phần lâu dài hơn là dân số ở các thị trường lớn, thị trường xuất khẩu chủ lực tăng chậm, thậm chí giảm dần khiến sức mua tăng không tương xứng. Trong bối cảnh “người khôn của khó”, các đối thủ cạnh tranh xuất khẩu với Việt Nam trỗi dậy bằng hàng giá rẻ hơn do giá nhân công rẻ.

Việt Nam nổi lên là một trong những cường quốc xuất khẩu và đã trở thành đối thủ của nhiều nền kinh tế khác. Trước đây (trước năm 2017), kim ngạch xuất khẩu hàng năm của nước ta chưa vượt quá 200 tỷ USD, chúng ta ít có đối thủ vì những nền kinh tế xuất khẩu “trên cơ” không coi chúng ta là đối thủ, nhưng bây giờ vị thế đã khác.

Một nỗi lo nữa là tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong nhiều năm qua đều tăng trưởng trên 2 con số, quy mô xuất khẩu ngày càng lớn, nên khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao trong thời gian tới. Tôi cho rằng, nếu mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số quá đặt nặng vào gia tăng xuất khẩu, thì tiềm ẩn nhiều rủi ro vì khó đạt được.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 74-76% kim ngạch xuất khẩu khiến nhiều chuyên gia kinh tế và đại biểu Quốc hội rất lo ngại khi xuất khẩu phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI. Ông không lo điều này sao?

Đây là bài toán nan giải cần phải giải quyết nhiều vấn đề.

Thứ nhất, chúng ta cũng như các nền kinh tế đang phát triển, rất khát vốn nước ngoài nói chung, vốn FDI nói riêng. Việt Nam đã và đang tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn nhất có thể để kêu gọi đầu tư, trong đó có việc tạo điều kiện cho khu vực FDI xuất khẩu bằng việc ký kết, tham gia 20 hiệp định thương mại tự do (FTA).

Thứ hai, phải nâng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước để giảm tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Thứ ba, khu vực FDI gia tăng xuất khẩu là điều rất mừng vì đóng góp quan trọng vào nền kinh tế Việt Nam. Nhưng vấn đề đặt ra là, hàm lượng giá trị gia tăng hàng hóa do doanh nghiệp FDI sản xuất tại Việt Nam còn thấp. Nói đúng ra Việt Nam là “cứ điểm” gia công, lắp ráp, đóng gói, kiểm thử, hầu hết nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc để sản xuất hàng hóa xuất khẩu của khu vực FDI là nhập khẩu.

Giải quyết bài toán này chỉ có cách duy nhất là phát triển công nghiệp phụ trợ, chủ động nguồn nguyên vật liệu, phụ kiện cung cấp cho doanh nghiệp FDI. Khi công nghiệp phụ trợ phát triển, giá trị gia tăng của hàng hóa sản xuất tại Việt Nam do khu vực FDI tăng lên, thì khu vực FDI gia tăng xuất khẩu cũng đồng nghĩa với hàng hóa trong nước gia tăng xuất khẩu.

Hơn nữa, khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi sản xuất hàng hóa toàn cầu, thì FDI mới đầu tư lâu dài tại Việt Nam do giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu và không lo bị đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào, nếu có sự bất ổn nào xảy ra trên thế giới như từng xảy ra. Còn nếu chỉ gia công, lắp ráp, thì doanh nghiệp FDI có thể rời đi bất cứ lúc nào, nếu ở nơi khác trên thế giới có điều kiện đầu tư hấp dẫn hơn, đặc biệt là giá nhân công rẻ.

Như ông nói, Việt Nam không thể mãi tăng trưởng xuất khẩu 2 con số, mà sẽ giảm dần. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số?

Cần phải thay đổi chiến lược xuất khẩu, chuyển từ đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu cao sang giá trị hàng xuất khẩu sản xuất tại Việt Nam cao. Có nhiều cách tính GDP, trong đó cách phổ biến được nhiều nước trên thế giới sử dụng là GDP gồm tiêu dùng cuối cùng (của hộ dân cư và của Chính phủ), tích lũy tài sản và chênh lệch xuất nhập khẩu. Như vậy, nếu kim ngạch xuất khẩu tăng mà nhập khẩu cũng tăng, cán cân thương mại thấp, thì đóng góp của xuất khẩu vào GDP không nhiều.

Đơn cử, tính đến ngày 15/1/2025, cán cân thương mại dương 18,64 tỷ USD do nhập khẩu 432,54 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2024. Nếu giảm được kim ngạch nhập khẩu (nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 41%), cán cân thương mại tăng thêm vài chục tỷ USD nữa, thì tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn rất nhiều.

Vì vậy, chuyển từ chạy theo số lượng sang chất lượng xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu tăng chậm, thậm chí không tăng, nhưng hàm lượng giá trị gia tăng sản xuất tại Việt Nam tăng, cán cân thương mại thặng dư lớn, thì đóng góp của xuất khẩu vào GDP rất lớn.

Chúng ta đã tính đến điều này, thưa ông?

May mặc, giày dép đóng góp rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu, nếu chúng ta chỉ sản xuất quần áo, mũ nón, giày dép thông dụng, thì khả năng cạnh tranh xuất khẩu với các đối thủ ngày càng giảm do giá nhân công nước ta đã, đang và tiếp tục tăng. Vì vậy, thay vì sản xuất hàng hóa phổ thông, doanh nghiệp tập trung sản xuất hàng hóa bằng nguyên liệu từ tơ tằm, tơ sen và các loại vải vóc từ tự nhiên, thân thiện với môi trường vừa có giá trị cao hơn, vừa phù hợp với xu hướng tiêu dùng của các nước nước phát triển.

Rất mừng là Nghị quyết 68-NQ/TW đã yêu cầu Chính phủ kịp thời xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D); cho doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và R&D.

Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra hàng loạt cơ chế khuyến khích, ưu đãi cho hoạt động R&D. Trong đó, “chốt cứng” kinh phí chi cho R&D đạt 2% GDP, bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.

Như vậy, dư địa tăng trưởng GDP 2 con số dựa vào xuất khẩu còn rất lớn, dù tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu có thể giảm. Vậy còn đầu tư công thì sao, thưa ông?

Theo Báo cáo giám sát tài chính của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), khoảng 1/3 quốc gia có nợ công cao hơn trước đại dịch Covid-19 và đang gia tăng với tốc độ nhanh hơn, nợ công toàn cầu có thể tăng tương đương GDP vào năm 2030. Rất may, nợ công của nước ta vào cuối năm 2025 chỉ vào khoảng 35-36%GDP; nợ chính phủ khoảng 33-34%GDP; nợ nước ngoài tương đương 31-32%GDP còn cách khá xa ngưỡng cảnh báo (tương ứng 55% GDP; 45% GDP; và 45% GDP). Như vậy, chúng ta còn rất nhiều dư địa để đầu tư công, tăng bội chi ngân sách nhà nước tạo đà tăng trưởng GDP 2 con số.

Chúng ta còn nhiều dư địa để có thể vay nợ, cả vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu chính phủ, vay thương mại nước ngoài tập trung cho đầu tư công. Thu ngân sách nhà nước năm nào cũng vượt dự toán và tăng thu hàng trăm ngàn tỷ đồng so với năm trước, nên có thêm nguồn dành cho đầu tư công.

Chúng ta cũng còn nhiều dư địa để tăng bội chi ngân sách nhà nước nhằm tận dụng nguồn vốn cho đầu tư. Chúng ta đã thực hiện sáp nhập các bộ, ngành, địa phương là cơ sở để tinh giản biên chế, nên vừa có nguồn tăng thu nhập cho khu vực nhà nước, vừa giảm được chi thường xuyên, tăng chi đầu tư phát triển.

Nói chung, về tiềm lực tài chính, có thể nói, “trong tay sẵn có đồng tiền” đáp ứng mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Vấn đề là phải đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, đúng công trình, dự án có hiệu quả cao nhất, hiệu quả sớm nhất. Nếu không, hệ lụy sẽ rất lớn, vì ngay lập tức tác động đến lạm phát, thu nhập thực tế của người dân giảm. Việc đầu tư không đúng nơi, đúng chỗ, hiệu quả thấp tác động ngay tới các cán cân kinh tế vĩ mô, làm giảm niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng vươn mình, phát triển giàu mạnh, thịnh vượng bằng con số cụ thể là tăng trưởng GDP 2 con số. Trong 3 động lực tăng trưởng, ngoại trừ thị trường nội địa không đạt mục tiêu, 2 động lực còn lại là xuất khẩu và đầu tư công còn rất lớn. Chúng ta có cơ sở để ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng phải trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Tăng trưởng GDP 2 con số: Năng lượng phải đi trước một bước
Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn tới có đạt 2 con số hay không phụ thuộc rất lớn vào ngành năng lượng. Để chuẩn bị cho sự phát triển kinh...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư