Thứ Sáu, Ngày 07 tháng 08 năm 2026,
Soi bước tiến Dự án vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội vốn 85.813 tỷ đồng
Anh Minh - 07/08/2026 08:11
 
Tính đến đầu tháng 8/2026, Dự án thành phần 3 - đầu tư xây dựng đường cao tốc thuộc Dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội đạt sản lượng 6.968,4/56.294 tỷ đồng, tương đương 12,38%; phấn đấu hoàn thành trong năm 2027.
Một đoạn đường song hành Vành đai 4 do Vinaconex thi công.
Một đoạn đường song hành Vành đai 4 do Vinaconex thi công.

Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại Báo cáo số 504/BC-CP ngày 5/8/2026 của Chính phủ gửi Quốc hội về tình hình thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội theo Nghị quyết số 56/2022/QH15.

Chốt mốc thông xe kỹ thuật chính tuyến cao tốc

Dự án thành phần 3 - Đầu tư xây dựng đường cao tốc theo phương thức PPP thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội có tổng chiều dài khoảng 113,52 km, trong đó tuyến chính dài 103,82 km và đoạn tuyến nối theo hướng cao tốc Nội Bài - Hạ Long dài 9,7 km.

Theo Chính phủ, ngay sau khi Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, TP. Hà Nội cùng hai tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh đã khẩn trương triển khai công tác giải phóng mặt bằng. Đến nay, các địa phương đã thu hồi 1.398,27/1.402,69 ha, đạt 99,68% diện tích; trong đó Hà Nội đạt 99,5%, Hưng Yên đạt 99,8% và Bắc Ninh hoàn thành 100%. Dự án ảnh hưởng tới 25.041 hộ dân.

Công tác xây dựng các khu tái định cư cũng cơ bản hoàn thành. Hà Nội đã hoàn thành 13 khu tái định cư; Hưng Yên hoàn thành 11 khu và Bắc Ninh hoàn thành 10 khu, đáp ứng nhu cầu bố trí tái định cư cho các hộ dân thuộc phạm vi Dự án.

Về lựa chọn nhà thầu, cả 4 dự án thành phần có cấu phần xây dựng đều đã khởi công. Các Dự án thành phần 2.1, 2.2 và 2.3 đã hoàn thành lựa chọn nhà thầu thi công. Riêng Dự án thành phần 3 đang hoàn thiện công tác lựa chọn nhà thầu, dự kiến hoàn thành trong tháng 8/2026.

Về tiến độ thi công, các tuyến đường song hành thuộc các Dự án thành phần 2.1, 2.2 và 2.3 tiếp tục bám sát kế hoạch. Tại Hà Nội, sản lượng đạt khoảng 3.650/4.205 tỷ đồng, tương đương 87% giá trị hợp đồng và phấn đấu hoàn thành trong tháng 9/2026. Hưng Yên đạt khoảng 980/1.168 tỷ đồng (82,7%), Bắc Ninh đạt khoảng 1.124,79/2.307,95 tỷ đồng (48,74%), cùng dự kiến hoàn thành trong năm 2026.

Đối với Dự án thành phần 3 thực hiện theo phương thức PPP, nhà đầu tư đang tập trung thi công các cầu vượt sông, nút giao và các đoạn tuyến ưu tiên như cầu Hồng Hà, cầu Mễ Sở, cầu Hoài Thượng; đoạn từ nút giao Quốc lộ 6 đến nút giao cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và đoạn kết nối cao tốc Nội Bài - Hạ Long dài 9,7 km.

Mục tiêu đặt ra cho dự án thành phần quan trọng nhất của tuyến Vành đai 4 – Vùng Thủ đô là thông xe kỹ thuật côn trình vào tháng 7/2027, trước Hội nghị APEC 2027.

Đến nay, sản lượng thi công tại Dự án thành phần 3 đã đạt khoảng 6.968,4/56.294 tỷ đồng, tương đương 12,38% giá trị hợp đồng; phấn đấu hoàn thành toàn bộ công trình trong năm 2027.

Về nguồn vốn, theo Nghị quyết số 56/2022/QH15, Dự án có tổng nhu cầu khoảng 85.813 tỷ đồng, trong đó vốn nhà đầu tư huy động khoảng 29.447 tỷ đồng và vốn nhà nước khoảng 56.366 tỷ đồng.

Đến nay, Dự án đã được bố trí khoảng 37.494,96 tỷ đồng; riêng năm 2026 được bố trí 3.532,93 tỷ đồng. Lũy kế giải ngân đạt khoảng 29.755,27 tỷ đồng, tương đương 79,4% kế hoạch vốn đã bố trí; riêng năm 2026 đạt 2.631,18 tỷ đồng, bằng 74,5% kế hoạch năm.

Gỡ nút thắt nguồn vật liệu

Liên quan đến nguồn cung vật liệu xây dựng - một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tiến độ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, Chính phủ cho biết trong giai đoạn đầu triển khai, Dự án gặp nhiều khó khăn về nguồn cát đắp do khu vực đồng thời triển khai nhiều công trình quy mô lớn như Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, tuyến kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đường Vành đai 3,5, mở rộng Quốc lộ 1, sân vận động Trống Đồng...

Để tháo gỡ vướng mắc, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, tổ chức các cuộc họp và chỉ đạo các địa phương tăng nguồn cung vật liệu cho Dự án. Hiện các chủ đầu tư và doanh nghiệp dự án đang phối hợp với TP. Hà Nội cùng các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Phú Thọ, Ninh Bình bổ sung mỏ mới, nâng công suất khai thác các mỏ hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu trong giai đoạn còn lại.

Theo báo cáo, Dự án thành phần 2.1 và Dự án thành phần 3 có tổng nhu cầu khoảng 14,29 triệu m³ vật liệu đắp nền, gồm 7,906 triệu m³ đất đắp và 6,384 triệu m³ cát đắp. Trong đó, Dự án thành phần 2.1 cơ bản đã đáp ứng nhu cầu vật liệu theo tiến độ thi công.

Đối với Dự án thành phần 3, doanh nghiệp dự án đang sử dụng vật liệu từ các mỏ thương mại, đồng thời triển khai các thủ tục để khai thác mỏ theo cơ chế đặc thù. Đến nay, đã hoàn tất cấp phép khai thác một mỏ đất tại Bắc Ninh với công suất khoảng 2 triệu m³ và đang đề xuất bổ sung thêm 3 mỏ đất, cát, đá.

Đối với Dự án thành phần 2.2, tổng nhu cầu vật liệu đắp nền khoảng 0,97 triệu m³, hiện cơ bản được đáp ứng từ các mỏ trên địa bàn Hưng Yên và các địa phương lân cận.

Trong khi đó, Dự án thành phần 2.3 có nhu cầu khoảng 3,95 triệu m³ vật liệu đắp nền. Mặc dù nguồn đất đắp cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhưng Bắc Ninh vẫn gặp khó khăn về cát đắp do trên địa bàn không có mỏ cát. Theo Chính phủ, khối lượng cát còn thiếu khoảng 0,6 triệu m³, trong khi việc huy động từ các địa phương lân cận vẫn gặp nhiều trở ngại.

Chính phủ cho biết, Dự án thành phần 3 - tuyến cao tốc đầu tư theo phương thức PPP - mới đạt khoảng 12,38% giá trị hợp đồng do đây là hạng mục có quy mô lớn và yêu cầu kỹ thuật phức tạp nhất của toàn Dự án.

Tuyến cao tốc có khoảng 80,89 km cầu cạn, 3 cầu lớn vượt sông và 8 nút giao liên thông, trong khi quá trình chuẩn bị đầu tư, đàm phán hợp đồng, lựa chọn nhà đầu tư, hoàn thiện thiết kế và tổ chức quản lý phần vốn nhà nước kéo dài hơn dự kiến.

Bên cạnh đó, nguồn cung vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát đắp nền, vẫn là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến tiến độ thi công. Tại thời điểm triển khai Dự án, cơ chế đặc thù về khai thác khoáng sản phục vụ Dự án theo Nghị quyết số 56/2022/QH15 đã hết thời hạn áp dụng, khiến doanh nghiệp dự án trước mắt phải sử dụng vật liệu từ các mỏ thương mại và phụ thuộc vào nguồn cung cũng như giá thị trường.

Để tháo gỡ các khó khăn này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 664/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025 về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ vướng mắc trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024; Quốc hội cũng ban hành Luật số 147/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản.

Trên cơ sở đó, doanh nghiệp dự án đã đẩy nhanh khảo sát, đánh giá trữ lượng các mỏ vật liệu để khai thác theo cơ chế đặc thù; đến nay đã hoàn tất thủ tục cấp phép khai thác một mỏ đất công suất khoảng 2 triệu m³ và đang đề xuất bổ sung thêm 3 mỏ đất, cát, đá.

“Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về nguồn vật liệu, giải phóng mặt bằng và tái định cư; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình triển khai để bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phấn đấu hoàn thành Dự án thành phần 3 và toàn bộ Dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội trong năm 2027, đưa công trình vào khai thác, phát huy hiệu quả đầu tư”, Báo cáo số 504 nêu rõ.

Tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 56/2022/QH15 ngày 16/6/2022 về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội với nội dung chủ yếu: tổng chiều dài 112,8 km, đi qua địa phận TP. Hà Nội, tỉnh Hưng Yên và tỉnh Bắc Ninh; sơ bộ tổng mức đầu tư 85.813 tỷ đồng; tiến độ thực hiện chuẩn bị đầu tư, thực hiện Dự án từ năm 2022, cơ bản hoàn thành năm 2026 và đưa vào khai thác từ năm 2027.
T&T chính thức tham gia Dự án PPP cao tốc Vành đai 4 - Vùng Thủ đô
Sự xuất hiện của T&T trong liên danh nhà đầu tư Dự án thành phần 3 cao tốc Vành đai 4 - Vùng Thủ đô sẽ bổ sung thêm năng lực đáng kể cho một trong...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư