-
Cảnh báo nguy cơ biến chứng sốt xuất huyết Dengue khi nhập viện muộn -
Chất lượng dân số - nền tảng phát triển bền vững của Thái Nguyên -
Ca tử vong do bệnh dại gia tăng, Bộ Y tế khuyến cáo cách phòng chống -
Ba dấu hiệu thường gặp của viêm mũi xoang dị ứng -
Tin mới y tế ngày 15/3: Những sai lầm trong điều trị khiến bệnh gout ngày càng nặng
Việc không thừa nhận tình trạng béo phì khiến nhiều người trì hoãn thăm khám, bỏ lỡ giai đoạn can thiệp sớm và làm gia tăng nguy cơ biến chứng.
Nguy cơ sức khỏe của béo phì với hàng trăm bệnh do biến chứng
Theo các chuyên gia, trên toàn cầu, gánh nặng béo phì đang gia tăng nhanh chóng với hơn 1 tỷ người đang sống chung với căn bệnh mạn tính này. Ước tính đến năm 2035, hơn 50% dân số toàn cầu sẽ mắc béo phì.
![]() |
| Theo các chuyên gia, trên toàn cầu, gánh nặng béo phì đang gia tăng nhanh chóng với hơn 1 tỷ người đang sống chung với căn bệnh mạn tính này. |
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam có khoảng 19,5% dân số, tương đương khoảng 20 triệu người, bị thừa cân, béo phì (BMI ≥ 25 kg/m²). Tỷ lệ béo phì ở nước ta cũng gia tăng nhanh trong những năm gần đây, từ 2,6% năm 2010 lên 3,6% năm 2014, tương đương mức tăng 38%, thuộc nhóm cao nhất khu vực Đông Nam Á.
Dự báo đến năm 2035, tỷ lệ người trưởng thành mắc béo phì tại Việt Nam có thể tăng với tốc độ trung bình 6,3% mỗi năm, trong khi ở trẻ em con số này thậm chí lên tới 9,8% mỗi năm.
Các chuyên gia cho biết béo phì thường được nhìn nhận là vấn đề thẩm mỹ thay vì nguy cơ sức khỏe, trong khi thực tế bệnh có thể liên quan đến nhiều biến chứng về tim mạch, chuyển hóa và hô hấp. Béo phì hiện được xem là một trong những bệnh không lây nhiễm gây gánh nặng lớn cho hệ thống y tế khi có tới 229 bệnh lý và biến chứng liên quan.
PGS-TS.Nguyễn Thị Bích Đào, Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường TP.HCM cho biết, béo phì liên quan chặt chẽ đến nhiều biến chứng đáng lo ngại. Tỷ lệ trào ngược dạ dày, thực quản ở người béo phì khoảng 35%, hội chứng ngưng thở khi ngủ 40%, tăng huyết áp 51%, thoái hóa khớp gối 52% và đái tháo đường 21%.
Ngoài ra, người béo phì còn có nguy cơ mắc suy tim sung huyết, đột quỵ và bệnh tim thiếu máu cục bộ. Theo PGS.Đào, béo phì tồn tại những thích ứng chuyển hóa và sinh học khiến bệnh trở nên dai dẳng. Khi đã mắc béo phì, cơ thể sẽ kích hoạt nhiều cơ chế đáp ứng khác nhau làm thúc đẩy tăng cân trở lại. Vì vậy, việc quản lý béo phì lâu dài cần các biện pháp can thiệp có khả năng giải quyết những thích ứng chuyển hóa này.
Tuy nhiên, khảo sát cho thấy vẫn tồn tại nhiều rào cản trong điều trị. Có khoảng 24% bệnh nhân cho rằng việc quản lý cân nặng hoàn toàn là trách nhiệm cá nhân, hoặc cho rằng nhân viên y tế không thể giúp họ, hay họ không đủ khả năng tài chính để điều trị.
Trong khi đó, khoảng 39% nhân viên y tế cảm thấy không thoải mái khi trao đổi về cân nặng với bệnh nhân, trừ khi người bệnh chủ động đề cập, do ảnh hưởng của quan niệm văn hóa và tâm lý không muốn can thiệp vào vấn đề riêng tư của người khác.
Còn theo PGS-TS.Hồ Thị Kim Thanh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Liên đoàn Béo phì Thế giới đã định nghĩa béo phì là một bệnh mạn tính, tái phát và tiến triển.
Theo bà, định nghĩa này cho thấy sự cần thiết phải hành động sớm trong quản lý, điều trị, dự phòng và kiểm soát bệnh. Vì là bệnh mạn tính kéo dài nên mục tiêu điều trị không chỉ dừng lại ở việc giảm cân mà còn phải phòng ngừa các biến chứng. Đích đến rõ ràng là kiểm soát cân nặng và các chỉ số cơ thể.
PGS.Thanh cũng cho biết quan niệm tiết chế năng lượng và tăng cường vận động để giảm cân rất phổ biến. Tuy nhiên khi giảm cân, cơ thể sẽ kích hoạt cơ chế thích nghi nhằm tiết kiệm năng lượng. Sau giai đoạn can thiệp, nếu quay lại chế độ sinh hoạt bình thường, người bệnh dễ rơi vào tình trạng tăng cân trở lại, thường được gọi là “hiệu ứng quả lắc”.
Thống kê cho thấy khoảng một nửa số cân nặng đã giảm có thể tăng lại trong vòng hai năm và hơn 80% có thể tăng lại trong vòng năm năm.
Theo bà, các biện pháp thay đổi lối sống thường chỉ giúp giảm cân ở mức khiêm tốn, khoảng 3-5% cân nặng. Chế độ ăn và tập luyện đơn thuần thường giúp giảm dưới 5% cân nặng. Vì vậy, để duy trì cân nặng bền vững, cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống, nhiều trường hợp cần thêm các liệu pháp hỗ trợ, bao gồm điều trị bằng dược phẩm.
Ngoài ra, nhiều phương pháp giảm béo tại các spa chủ yếu tác động lên mỡ ngoại vi. Dù có thể giúp thay đổi vòng eo nhanh chóng nhưng không làm giảm mỡ nội tạng – yếu tố có liên quan trực tiếp đến nguy cơ bệnh tật. Vì vậy, các phương pháp này không mang lại lợi ích thực sự cho sức khỏe.
Tại buổi truyền thông về bệnh béo phì, các chuyên gia y tế nhấn mạnh việc nâng cao nhận thức đúng về bản chất bệnh béo phì là bước khởi đầu quan trọng để thúc đẩy hành động.
Khi người bệnh hiểu rõ nguy cơ và gánh nặng của béo phì, họ sẽ chủ động thăm khám và can thiệp sớm, từ đó giảm nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch và nhiều biến chứng lâu dài. Điều này cũng có ý nghĩa chiến lược trong việc giảm gánh nặng bệnh không lây nhiễm, tối ưu chi phí y tế dài hạn và cải thiện năng suất lao động của xã hội.
Theo Ths.Trương Lê Vân Ngọc, đại diện Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), để hỗ trợ điều trị béo phì, năm 2022 lần đầu tiên tại Việt Nam Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn chính thức về chẩn đoán và điều trị béo phì. Hướng dẫn bao gồm các biện pháp thay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng, tăng cường vận động, sử dụng thuốc và trong một số trường hợp có thể cần can thiệp phẫu thuật.
Hiện Bộ Y tế đang tiếp tục phối hợp với các hội chuyên ngành để cập nhật hướng dẫn điều trị béo phì cho người lớn, đồng thời xây dựng hướng dẫn riêng cho trẻ em và vị thành niên.
Việt Nam đang thúc đẩy cách tiếp cận chủ động trong phòng chống bệnh không lây nhiễm. Chiến lược quốc gia trong giai đoạn tiếp theo sẽ nhấn mạnh dự phòng, quản lý liên tục theo vòng đời và tạo môi trường thuận lợi để người dân tăng cường vận động, kiểm soát thừa cân, béo phì.
Theo các chuyên gia, việc kiểm soát béo phì không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà cần sự phối hợp đa ngành, từ chính sách công, giáo dục, truyền thông đến sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp công - tư. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân chủ động can thiệp sớm nhằm quản lý hiệu quả căn bệnh mạn tính này.
Cảnh báo suy thận ở người trẻ
Một trường hợp suy thận nặng ở sinh viên 22 tuổi vừa được ghi nhận tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Minh Anh đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự chủ quan trong việc tầm soát sức khỏe ở người trẻ tuổi dù đây là nhóm đối tượng vốn thường được cho là ít nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng.
Bệnh nhân N.T.N., sinh viên đang theo học tại một trường đại học ở Campuchia, đã phải điều trị suy thận suốt 5 năm. Trong suốt thời gian này, việc điều trị chủ yếu tập trung vào kiểm soát huyết áp và theo dõi các chỉ số suy thận.
Tuy nhiên, khi nhập viện, qua thăm khám và thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, các bác sỹ phát hiện động mạch thận trái của bệnh nhân đã tắc hoàn toàn. Tình trạng này khiến thận trái teo nhỏ và mất hoàn toàn chức năng. Không chỉ vậy, động mạch thận phải, nguồn cung cấp máu nuôi quả thận còn lại cũng bị hẹp nặng.
Bệnh nhân được tiếp tục thăm khám chuyên sâu và kết quả nuôi cấy, định danh vi khuẩn ghi nhận sự hiện diện của vi khuẩn E. coli, tác nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn tiết niệu.
Thời điểm nhập viện, chức năng lọc của thận đã suy giảm nghiêm trọng, khiến nguy cơ bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo trong tương lai gần là rất cao.
Trước tình trạng nguy cấp, các bác sỹ đã nhanh chóng tiến hành can thiệp nong và đặt stent động mạch thận phải nhằm khôi phục dòng máu nuôi thận. Ca can thiệp diễn ra thành công, giúp bảo tồn chức năng của quả thận còn lại và mang lại hy vọng cho người bệnh.
Theo bác sỹ Chuyên khoa II Nguyễn Thành Hưng, chuyên khoa Lồng ngực - mạch máu, đây là trường hợp đáng tiếc bởi bệnh lý hoàn toàn có thể được phát hiện sớm hơn nếu người bệnh được tầm soát kịp thời.
“Chúng tôi mừng vì đã giữ lại được hy vọng cho người bệnh. Tuy nhiên, nếu việc tầm soát mạch máu được thực hiện từ sớm hơn, tình trạng suy thận có thể đã được ngăn chặn trước khi tiến triển nghiêm trọng như vậy”, bác sỹ Hưng chia sẻ.
Theo các bác sỹ, ca bệnh là minh chứng điển hình cho việc bỏ sót bệnh lý mạch máu thận. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy thận và tăng huyết áp thứ phát ở người trẻ tuổi.
Khi mạch máu cung cấp máu cho thận bị hẹp hoặc tắc, dòng máu nuôi thận bị gián đoạn. Lâu dần, thận không còn khả năng lọc chất thải và có thể mất hoàn toàn chức năng.
Các bác sỹ khuyến cáo người trẻ không nên chủ quan với tình trạng tăng huyết áp. Khi phát hiện huyết áp cao hoặc xuất hiện những dấu hiệu bất thường về sức khỏe, cần đi khám để tìm nguyên nhân thay vì chỉ sử dụng thuốc hạ huyết áp.
Khám sức khỏe định kỳ và tầm soát các bệnh lý liên quan sẽ giúp phát hiện sớm nhiều bệnh nguy hiểm, trong đó có các bệnh lý về thận, từ đó kịp thời can thiệp và hạn chế các biến chứng nặng nề.
Suýt mất chân vì đắp lá chữa bỏng suốt một tháng
Tự ý điều trị bỏng lửa bằng cách đắp lá tại nhà suốt một tháng, nam bệnh nhân V.M.D. (44 tuổi, người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang) đã phải nhập viện trong tình trạng cẳng chân hoại tử nặng, bốc mùi hôi thối, tổn thương sâu tận xương và đứng trước nguy cơ phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mạng.
Theo thông tin từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, bệnh nhân bị bỏng lửa cách thời điểm nhập viện khoảng một tháng. Tuy nhiên, thay vì đến cơ sở y tế, người bệnh tự điều trị theo kinh nghiệm dân gian bằng cách đắp lá chữa bệnh tại nhà.
Chỉ đến khi vùng tổn thương sưng to, đau tăng dần, hoại tử lan rộng và chảy dịch mủ nghiêm trọng, người bệnh mới được đưa đến bệnh viện tuyến tỉnh và sau đó nhanh chóng chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để điều trị.
TS.Dương Mạnh Chiến, Phụ trách khoa Phẫu thuật Tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết toàn bộ mặt sau cẳng chân trái của bệnh nhân đã hoại tử gần như hoàn toàn, lan rộng 50-70% bàn chân. Tổn thương đã ăn sâu vào xương gót, gân gót (gân Achilles) và các đầu xương chày, xương mác.
Ngay khi tiếp nhận, ê-kíp phẫu thuật đã tiến hành cắt lọc toàn bộ mô hoại tử mủn đen và đặt hệ thống hút áp lực âm (VAC) để kiểm soát nhiễm trùng. Sau một tuần chăm sóc tích cực, quá trình hoại tử được kiểm soát và dừng lại. Các bác sỹ sau đó bước vào giai đoạn tái tạo đầy thách thức cho vùng khuyết hổng rất rộng vốn đã bị viêm xương và lộ xương.
Trong cuộc đại phẫu kéo dài 6 giờ đồng hồ, ê-kíp tạo hình đã phối hợp với chuyên khoa chấn thương chỉnh hình để nạo sạch tổ chức viêm và mô hoại tử trong xương trước khi thực hiện kỹ thuật vi phẫu phức tạp.
Các bác sỹ lựa chọn lấy vạt da cơ từ vùng lưng của bệnh nhân để che phủ vùng tổn thương. Phần cơ của vạt giúp cung cấp nguồn máu phong phú nhằm đưa kháng sinh và tế bào miễn dịch đến kiểm soát viêm xương, trong khi phần da giúp tái tạo lại vùng đệm gót bền vững cho việc đi lại sau này.
Điểm khó nhất của ca mổ là việc nối mạch máu nuôi vạt ghép vào hệ mạch vùng cẳng chân vốn đã bị tổn thương do nhiễm trùng. Bằng kỹ thuật nối mạch tận bên, các bác sỹ vừa đảm bảo máu được lưu thông nuôi dưỡng vạt ghép, đồng thời vẫn duy trì được dòng máu xuống nuôi dưỡng bàn chân.
Theo TS.Dương Mạnh Chiến, đây là loại phẫu thuật nặng với nhiều nguy cơ do diện tích tổn thương lớn, nguy cơ chảy máu cao, thời gian mổ kéo dài và bệnh nhân phải được gây mê trong tư thế nằm sấp, là tư thế có nhiều rủi ro hơn so với phẫu thuật thông thường.
“Với mức độ tổn thương như trường hợp này, ở nhiều cơ sở y tế khác bệnh nhân có thể đã phải cắt cụt chi do tổn thương sâu và nguy cơ nhiễm trùng lan rộng. Tuy nhiên, với các kỹ thuật tạo hình và vi phẫu hiện nay, việc bảo tồn chi thể vẫn có thể thực hiện được nếu kiểm soát tốt nhiễm trùng và tái tạo mô phù hợp”, bác sỹ Chiến cho biết.
Sau phẫu thuật hai ngày, tình trạng vạt ghép bước đầu ổn định. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn cần được theo dõi và chăm sóc lâu dài để kiểm soát hoàn toàn nhiễm trùng cũng như phục hồi chức năng vận động.
TS.Dương Mạnh Chiến cũng khuyến cáo bỏng lửa diện rộng là dạng bỏng đặc biệt nguy hiểm vì tổn thương thường sâu và lan rộng, dễ gây phá hủy da, mô mềm và mạch máu. Khi diện tích bỏng lớn hoặc tổn thương sâu, nguy cơ nhiễm trùng, hoại tử mô và biến chứng toàn thân có thể xảy ra rất nhanh.
Việc tự ý đắp lá, sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc hoặc chậm trễ đến cơ sở y tế có thể khiến vết thương nhiễm trùng nặng, thậm chí phá hủy cả gân và xương nếu không được xử trí kịp thời, làm tăng nguy cơ mất chi và đe dọa tính mạng.
Các bác sỹ khuyến cáo với mọi trường hợp bỏng, đặc biệt là bỏng lửa diện rộng hoặc các vết thương hở sâu, người dân tuyệt đối không tự điều trị bằng các phương pháp dân gian.
Khi có các dấu hiệu như sưng đau tăng dần, chảy dịch, đổi màu da hoặc xuất hiện hoại tử, cần đến cơ sở y tế chuyên khoa càng sớm càng tốt để được đánh giá và xử trí đúng cách.
Việc điều trị kịp thời không chỉ giúp kiểm soát nhiễm trùng mà còn tăng đáng kể khả năng bảo tồn chức năng và hình thể chi thể.
-
Tin mới y tế ngày 16/3: Nguy cơ sức khỏe của béo phì với hàng trăm bệnh do biến chứng -
Tin mới y tế ngày 15/3: Những sai lầm trong điều trị khiến bệnh gout ngày càng nặng -
Hưng Yên định hướng xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh 1.500 giường -
Đề xuất mở rộng sàng lọc 90 bệnh bẩm sinh để tránh bỏ lỡ “thời điểm vàng” điều trị -
Hơn 90% người Việt mắc bệnh răng miệng -
Tin mới y tế ngày 14/3: Phát hiện ung thư não từ dấu hiệu bị choáng -
Mối nguy khi sử dụng các bài thuốc gia truyền kém chất lượng
-
1
[Ảnh] Tổng Bí thư Tô Lâm tham gia bầu cử tại phường Ba Đình, Hà Nội -
2
[Ảnh] Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng cử tri bỏ phiếu bầu cử tại phường Tây Hồ, Hà Nội -
3
[Ảnh] TP.HCM: Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cùng nhiều cử tri đi bầu cử -
4
[Ảnh] Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tham dự, bỏ phiếu bầu cử tại xã Hóc Môn, TP.HCM
-
Dệt may Việt Nam có cơ hội định hình tương lai mới nhờ đầu tư vào công nghệ -
NovaGroup bắt tay với bệnh viện, đón sóng du lịch chăm sóc sức khỏe và “kinh tế bạc” -
Quỹ Văn hóa DB Kim Jun Ki trao tặng học bổng cho sinh viên 9 trường đại học thuộc VECOM -
Tổ vay vốn - “cánh tay nối dài” đưa tín dụng Agribank đến với nông dân -
Nha khoa Phương Thành đồng hành chăm sóc sức khỏe răng miệng học đường tại Đồng Tháp -
SeABank thông báo mời thầu

