Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2018: Quy mô nhỏ cản đà tăng năng suất
Quy mô doanh nghiệp tư nhân quá nhỏ, chủ yếu nằm ở khu vực kinh tế hộ gia đình, dường như đang làm khó các nỗ lực cải thiện năng suất của kinh tế Việt Nam.

Mối lo từ kinh tế hộ

GS. Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản) nhấn mạnh rất nhiều lần rằng, khu vực kinh tế hộ gia đình còn quá nhỏ trong nền kinh tế là điều cần phải bàn ngay khi bàn thảo về các giải pháp tăng năng suất cho nền kinh tế Việt Nam.

“Khu vực này quá nhỏ, không có vốn và nhu cầu cải thiện năng suất, chất lượng không rõ ràng”, GS. Trần Văn Thọ giải thích với phóng viên Báo Đầu tư.

Diễn đàn kinh tế Việt Nam 2018 vừa diễn ra tại Hà Nội đã thu hút sự tham gia của đông đảo học giả, chuyên gia trong và ngoài nước. Ảnh: T.A
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2018 vừa diễn ra tại Hà Nội đã thu hút sự tham gia của đông đảo học giả, chuyên gia trong và ngoài nước. Ảnh: T.A

Là người đầu tiên đăng đàn thảo luận chủ đề “Cải thiện năng suất trong bối cảnh công nghiệp hóa” tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2018 diễn ra tại Hà Nội hôm qua (11/1), GS. Trần Văn Thọ cảm thấy nuối tiếc khi nỗ lực tăng quy mô, sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là việc chính thức hóa khu vực kinh tế hộ gia đình của Việt Nam trong những năm qua còn khá chậm.

Thực tế này khiến tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam dù khá cao, chiếm 40,5% năm 2017, tăng 6,7% so với năm trước đó, nhưng lại không đi cùng với việc tăng năng suất.

Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nên không có năng lực về vốn, không có năng lực du nhập công nghệ để đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, không kết nối được với chuỗi giá trị toàn cầu. Rất tiếc, đây là những đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam hiện tại”, GS. Thọ chia sẻ quan điểm về những điểm kìm hãm động lực tăng năng suất của nền kinh tế Việt Nam.

kinh tế Việt Nam không thể hội nhập bằng khu vực cá thể thiếu chuyên nghiệp, năng suất thấp.

Thực ra, mối lo của GS. Trần Văn Thọ không mới. Những cuộc thảo luận về việc tại sao doanh nghiệp Việt Nam khó lớn đã dấy lên suốt nhiều năm, khi các nỗ lực khuyến khích khu vực kinh tế hộ, kinh tế cá thể chuyển thành doanh nghiệp cho kết quả khá thấp. Đầu tư của doanh nghiệp tư nhân nhiều năm qua vẫn chỉ chiếm 7 - 8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và không có nhiều thay đổi trong 10 năm qua.

Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cũng thừa nhận, rất khó để cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế khi nhu cầu của các hộ gia đình vẫn chỉ là tận dụng thời cơ kiếm lời, quy mô hoạt động trong phạm vi tỉnh, thậm chí là huyện, xã...

“Kinh tế Việt Nam không thể hội nhập bằng khu vực cá thể thiếu chuyên nghiệp, năng suất thấp...”, ông Cung nói.

Giải pháp vẫn là chính sách

Quy mô nhỏ, phần lớn là không chính thức, cũng như tăng trưởng năng suất chậm của của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam không phải lỗi của chính khu vực kinh tế tư nhân.

“Phát triển kinh tế phải do con người và doanh nghiệp chèo lái. Chính phủ Việt Nam cần khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân lớn lên và đặc biệt là môi trường kinh doanh phù hợp để đưa nền kinh tế Việt Nam từ lắp ráp đơn giản đến tạo ra giá trị”, ông Kenichi Ohno, chuyên gia Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản khuyến nghị.

Chia sẻ các chính sách khuyến khích khởi nghiệp của Việt Nam, nhưng giới chuyên gia từ Nhật Bản cảm thấy cần chia sẻ câu chuyện thành công của Nhật Bản từ việc thúc đẩy doanh nghiệp lớn lên, cải thiện năng suất thông qua các chuyển dịch từ khu vực có năng suất kém sang khu vực có giá trị gia tăng cao hơn.

Ở khía cạnh này, giải pháp chính sách được nhắc tới nhiều vẫn là thúc đẩy công nghiệp hóa, sửa đổi chính sách công nghiệp hỗ trợ để thúc đẩy cải thiện công nghệ, cải thiện năng suất lao động... Mọi việc trở nên cấp bách hơn khi ngay trong nghiên cứu chính thức của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7% của Singapore, 17,6% của Malaysia, 36,5% của Thái Lan, 42,3% của Indonesia, 56,7% của Philippines và bằng 87,4% của Lào.

Tuy nhiên, ông Cung cho rằng, cần phát triển các thị trường nhân tố sản xuất, như thị trường lao động, thị trường quyền sử dụng đất, nhất là đất nông nghiệp...

“Nông nghiệp cũng là một nghề, phải đầu tư, phải cạnh tranh... Nhưng họ cần cơ chế chính sách, họ cần thị trường cạnh tranh cho các sản phẩm nông nghiệp và cho cả quyền sử dụng đất nông nghiệp. Khi đó, dư địa chính sách không chỉ để cải thiện năng suất lao động trong khu vực nông nghiệp, mà còn chuyển dịch nông nghiệp phân tán, rời rạc, phi thị trường sang nền nông nghiệp thị trường và chuyên nghiệp”, ông Cung nói.

Cụ thể hơn, GS. Thọ muốn Việt Nam có cơ chế thúc đẩy du nhập công nghiệp, kết hợp với phát triển thị trường vốn để nguồn lực di chuyển đến các khu vực có năng suất cao.

“Nhật Bản khi trong giai đoạn dân số vàng, khoảng 60 năm trước, đã làm nên kỳ tích khi tốc độ tăng trưởng 10%/năm kéo dài nhiều năm. Họ làm được vì tỷ lệ đầu tư của khu vực tư nhân trong GDP cao, lên tới 77,8% vào năm 1980, nhưng đi liền với du nhập công nghệ, cách tân công nghệ. Số liệu doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ của Nhật Bản và cả Hàn Quốc được thống kê tốt, từ đó có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy. Nhưng tôi không tìm thấy các con số này ở Việt Nam”, GS. Thọ nói.

Khánh An

Tag:
Bình luận của bạn về bài viết...