Thứ Tư, Ngày 15 tháng 04 năm 2026,
Cấp cứu tràn dịch màng phổi, phát hiện ung thư di căn ở bệnh nhân 66 tuổi
D.Ngân - 13/04/2026 16:31
 
Một trường hợp tràn dịch màng phổi mức độ nặng được cấp cứu kịp thời tại Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Thanh Xuân.

Qua các xét nghiệm chuyên sâu, bác sỹ xác định bệnh nhân mắc ung thư phổi đã di căn, thuộc nhóm bệnh lý nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện sớm.

Phòng khám tiếp nhận bà N.B.H, 66 tuổi, trong tình trạng tức ngực và khó thở. Theo khai thác bệnh sử, khoảng một tháng trước nhập viện, bệnh nhân xuất hiện ho khan, khạc ít đờm, không sốt.

image_1776071868887 (2).jpg
Xét nghiệm khối tế bào kết luận dịch nghi ngờ di căn.

Bệnh nhân tự dùng kháng sinh tại nhà và có cải thiện. Tuy nhiên, trong hai tuần gần đây, triệu chứng tức ngực và khó thở tăng dần, rõ hơn khi nằm hoặc vận động mạnh, kèm theo mệt mỏi, cảm giác nuốt nghẹn và ho khan rải rác.

Khám lâm sàng ghi nhận lồng ngực hai bên không đều, bên phải hơi gồ, hạn chế di động theo nhịp thở. Các khoang liên sườn phải giãn, không có dấu hiệu co kéo cơ hô hấp. Phổi phải xuất hiện hội chứng ba giảm gồm giảm rì rào phế nang, giảm rung thanh và gõ đục. Phổi trái thông khí đều.

Chụp CT phổi cho thấy tràn dịch màng phổi phải mức độ nhiều, gây xẹp hoàn toàn nhu mô phổi, đồng thời đẩy tim và trung thất lệch sang trái. Ngoài ra, phát hiện một nốt đặc tại phân thùy S6 phổi trái, kích thước 10x15 mm, bờ đều, ranh giới rõ, bên trong có tỷ trọng vôi 103 HU. Tổn thương được phân loại Lung RADS 4X với mức nghi ngờ ác tính cao.

Bệnh nhân được chỉ định thở oxy qua gọng kính mũi với lưu lượng 3 lít mỗi phút và tiến hành chọc dẫn lưu dịch màng phổi phải cấp cứu dưới hướng dẫn siêu âm. Thủ thuật diễn ra an toàn. Sau khoảng hai giờ, dẫn lưu được gần 1.000 ml dịch màng phổi màu vàng, tính chất lỏng, ít vẩn đục. Tình trạng tức ngực và khó thở cải thiện rõ rệt.

Mẫu dịch được chuyển đến Trung tâm Xét nghiệm và Trung tâm Giải phẫu bệnh MEDLATEC để phân tích. Kết quả cho thấy ngoài thành phần bạch cầu còn có khoảng 38% tế bào biểu mô, trong đó xuất hiện các tế bào kích thước lớn, bào tương rộng, nhân lệch về một phía. Nhuộm tế bào học thường quy ghi nhận sự hiện diện của các tế bào không điển hình.

Xét nghiệm khối tế bào gợi ý tổn thương ác tính, nghi ngờ di căn carcinoma. Nhuộm hóa mô miễn dịch cho thấy các tế bào u dương tính với TTF 1 và Napsin A, phù hợp với đặc điểm của ung thư biểu mô tuyến phổi.

Dựa trên các kết quả cận lâm sàng, bệnh nhân được chẩn đoán u phổi ác tính, phù hợp với carcinoma tuyến phổi đã di căn. Đây là giai đoạn muộn, các tế bào ung thư đã lan rộng từ phổi đến hạch bạch huyết lân cận hoặc các cơ quan xa thông qua đường máu. Kết quả giải phẫu bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chiến lược điều trị chuyên sâu.

Theo bác sỹ chuyên khoa hồi sức cấp cứu Hoàng Minh Toại, tràn dịch màng phổi là tình trạng tích tụ dịch trong khoang màng phổi vượt quá mức sinh lý, xuất phát từ rối loạn cân bằng giữa quá trình hình thành và tái hấp thu dịch. Các cơ chế chính gồm tăng áp lực thủy tĩnh, giảm áp lực keo huyết tương, tăng tính thấm thành mạch do viêm và giảm dẫn lưu bạch huyết màng phổi.

Nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi khá đa dạng, bao gồm suy tim, lao màng phổi, ung thư phổi, viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus, xơ gan, suy thận, bệnh tự miễn như Lupus hoặc chấn thương lồng ngực.

Triệu chứng thường gặp là đau ngực kiểu màng phổi, mức độ đau tăng khi hít sâu hoặc ho, kèm ho khan và khó thở tăng dần theo lượng dịch. Khám thực thể có thể ghi nhận hội chứng ba giảm. Một số trường hợp lượng dịch ít có thể nghe thấy tiếng cọ màng phổi. Người bệnh cũng có thể xuất hiện các dấu hiệu của bệnh lý nền như phù ngoại vi hoặc cổ trướng.

Chọc hút và dẫn lưu dịch màng phổi là thủ thuật quan trọng, vừa giúp giảm triệu chứng, đặc biệt là khó thở, vừa có giá trị chẩn đoán nhằm xác định nguyên nhân.

Các phương pháp cận lâm sàng được sử dụng gồm xét nghiệm sinh hóa, tế bào học, vi sinh dịch màng phổi, cùng với sinh thiết hoặc nội soi màng phổi trong các trường hợp cần thiết.

Tiên lượng phụ thuộc chủ yếu vào nguyên nhân gây bệnh. Nhiều trường hợp có thể hồi phục sau vài tuần đến vài tháng nếu được điều trị phù hợp. Một số trường hợp diễn tiến nặng do bệnh lý nền nghiêm trọng. Các biến chứng có thể gặp gồm xẹp phổi, suy hô hấp cấp, nhiễm trùng hoặc dày dính màng phổi, tràn dịch màng tim, ung thư hoặc xơ hóa màng phổi.

Bác sỹ khuyến cáo người có tiền sử bệnh phổi mạn tính, nhiễm trùng hô hấp tái diễn hoặc hút thuốc lá nhiều năm cần được theo dõi sát và thăm khám định kỳ. Việc kiểm tra sức khỏe hô hấp thường xuyên giúp phát hiện sớm bất thường, tạo điều kiện can thiệp kịp thời và hạn chế nguy cơ biến chứng nguy hiểm.

Tin mới y tế ngày 2/3: Tràn dịch màng phổi do nấm, mối nguy từ môi trường sống
Khó thở, tức ngực kéo dài tưởng do viêm phổi thông thường, một người đàn ông 75 tuổi được phát hiện nhiễm nấm Aspergillus gây tràn dịch...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư