-
Loạt ngân hàng lớn bị Hà Nội ra "tối hậu thư" vì có dự án chậm triển khai -
Nhiệt điện Phả Lại ghi nhận lãi đột biến quý I/2026 nhờ nhận cổ tức -
Doanh thu đạt hơn 1.940 tỷ đồng, năm 2026, Bidiphar đặt mục tiêu hơn 2.000 tỷ đồng -
Lãnh đạo Ricons lên tiếng việc công ty bị huỷ tư cách Công ty đại chúng -
BIDV khẳng định vị thế, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt - Hàn
![]() |
| Lợi nhuận quý I/2026 của các ngân hàng được dự báo vẫn tăng trưởng khả quan. Ảnh: Đức Thanh |
Ngân hàng khó cạnh tranh vốn phải tìm đường tăng thu ngoài lãi
Báo cáo tài chính quý I/2026 chưa được công bố, song con số ước tính ban đầu cho thấy, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn tăng trưởng khả quan. Dù vậy, động lực tăng trưởng của từng nhóm ngân hàng rất khác nhau. Nếu ở nhóm ngân hàng lớn, có lợi thế huy động vốn, lợi nhuận chủ yếu đến từ hoạt động cho vay, thì ở nhóm ngân hàng nhỏ, động lực tăng trưởng lại đến từ hoạt động kinh doanh ngoài lãi.
VPBank cho biết, tính đến hết quý I/2026, tín dụng hợp nhất của ngân hàng này vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 10,2% so với cuối năm 2025 (tăng gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn hệ thống). VPBank đang trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch tăng trưởng tín dụng và huy động lần lượt 35% và 40% cho năm nay, thuộc nhóm cao nhất toàn ngành.
Sở dĩ VPBank được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng cao là nhờ tham gia nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém. VPBank cũng là một trong những ngân hàng TMCP tư nhân có thị phần huy động vốn lớn nhất. Lãi suất tiền gửi hấp dẫn, đa dạng hóa sản phẩm huy động khiến nhà băng này cạnh tranh rất tốt về huy động vốn.
Ngoài ra, VPBank có nguồn vốn dồi dào từ các khoản vay dài hạn từ các tổ chức tài chính quốc tế. Việc tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu cũng giúp VPBank được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tức có thêm khoảng 9.000 tỷ đồng nguồn vốn cho tăng trưởng.
Tuy nhiên, đối với những ngân hàng vừa và ngân hàng nhỏ, khi huy động vốn và “room” tín dụng đều khó khăn, việc tăng trưởng sẽ phải dựa vào động lực khác.
Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc OCB cho biết, trọng tâm của OCB giai đoạn tới là tập trung tăng trưởng vào chất lượng và tăng trưởng sản phẩm phi tín dụng, giảm phụ thuộc vào tín dụng. Năm nay, khi trần tín dụng của các ngân hàng tiếp tục bị hạn chế, OCB càng kiên định với mục tiêu tập trung vào các năng lực cốt lõi để tăng thu ngoài lãi.
Theo ông Hải, quý I/2026, thu nhập ngoài lãi của OCB đã tăng trưởng hơn 80%, đóng góp lớn cho tăng trưởng quý I của ngân hàng này.
Công ty Chứng khoán VCBS dự báo, tăng trưởng lợi nhuận ngành ngân hàng trong quý I/2026 sẽ chậm lại do áp lực chi phí vốn và dư địa tăng trưởng tín dụng bị hạn chế.
Cần một cơ cấu tài chính kết hợp
- Ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch HĐQT ACB
Đối với thị trường Việt Nam, hệ thống tài chính - ngân hàng trong nước hoàn toàn có khả năng hỗ trợ các Dự án quy mô lớn. Tuy nhiên, về dài hạn, cấu trúc vốn cần đa dạng hơn, không thể chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng. Chúng ta cần một cơ cấu tài chính kết hợp - kết hợp giữa nguồn vốn ngân hàng, vốn góp từ nhà đầu tư, nguồn lực quốc tế và cả vốn từ khu vực công.
Năm nay, nhóm ngân hàng lớn được cấp “room” dồi dào và có khả năng cạnh tranh về huy động vốn sẽ giữ được tốc độ tăng trưởng cao. Riêng các ngân hàng khó khăn trong huy động vốn, phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng, có tỷ trọng cho vay bất động sản và bán lẻ cao... sẽ gặp khó khăn.
Các chuyên gia phân tích tại Fiin Group cho rằng, áp lực thanh khoản với hệ thống ngân hàng sẽ kéo dài cả năm 2026. Theo đó, năng lực vốn và thanh khoản sẽ định hình triển vọng tăng trưởng của các ngân hàng.
Dự kiến, năm nay, biên lãi ròng (NIM) của ngành ngân hàng vẫn ở mức dưới 3% do chi phí vốn tăng cao, giảm đáng kể so với mức 3,5% năm 2024. Mặc dù lợi nhuận đang chịu áp lực, nhưng được hỗ trợ bởi sự gia tăng thu nhập ngoài lãi, đặc biệt là từ việc thu hồi nợ xấu và các khoản thu nhập một lần khác.
Ngoài áp lực huy động vốn cho tăng trưởng, năm nay, các ngân hàng còn có áp lực tăng vốn để cải thiện Hệ số An toàn vốn (CAR).
Với hệ số CAR cải thiện chậm và vẫn ở mức thấp so với khu vực như hiện nay, khả năng năm nay nhóm ngân hàng Big 4 vẫn sẽ giữ tốc độ tăng trưởng vừa phải, nhóm ngân hàng TMCP tư nhân hàng đầu sẽ phải phát hành mạnh trái phiếu tăng vốn cấp 2 nếu muốn giữ tốc độ tăng trưởng cao. Riêng các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ hơn sẽ phải lựa chọn giữa bơm thêm vốn chủ sở hữu hoặc giảm tốc độ tăng trưởng.
Tóm lại, năm nay, lợi nhuận của các ngân hàng sẽ phân hóa mạnh mẽ. Các ngân hàng không có lợi thế về vốn sẽ buộc phải tăng thu ngoài lãi nếu muốn giữ tốc độ tăng trưởng cao.
Điều đáng mừng là năm 2025, thu nhập ngoài lãi của ngành tăng nhẹ. Tuy nhiên, nhìn về cơ cấu, có thể thấy, nhiều ngân hàng tăng thu nhập ngoài lãi chủ yếu vẫn từ hoạt động thu hồi nợ (tức vẫn lấy ra từ nguồn lợi nhuận của chính mình). Trong khi đó, mảng dịch vụ tăng trưởng chậm. Các hoạt động kinh doanh vàng, ngoại hối, đầu tư chứng khoán… chưa đem lại nguồn thu bền vững.
Điểm tích cực năm nay là thị trường chứng khoán Việt Nam sắp được nâng hạng và việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp dự kiến tăng do mục tiêu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thấp hơn, có thể tác động tích cực đến dịch vụ môi giới và đại lý của ngành. Ngoài ra, việc nền kinh tế tập trung vào tăng trưởng cơ sở hạ tầng trong vài năm tới sẽ làm tăng nhu cầu về thư tín dụng (L/C) và các dịch vụ bảo lãnh khác, có lợi cho các ngân hàng đang hoạt động tốt trong các phân khúc này.
Cấu trúc tín dụng và nỗi lo nợ xấu quay lại
Đến hết quý I/2025, tín dụng tăng 3,18%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 0,55% (tốc độ tăng tín dụng cao gấp 6 lần huy động vốn). Chênh lệch huy động vốn và cho vay không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, mà tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nền kinh tế.
Đến hết quý I/2026, ước tính hệ số LDR thuần (huy động/cho vay) của hệ thống ngân hàng đã lên tới 112%, tức ngân hàng huy động được 100 đồng thì đã cho vay tới 112 đồng.
Theo các chuyên gia kinh tế, chênh lệch vốn tăng cao không hẳn do nền kinh tế thiếu vốn, mà một phần do cấu trúc tín dụng đang có nhiều bất ổn. Dòng vốn rót quá nhiều vào bất động sản trong thời gian dài gây ra các rủi ro mang tính truyền dẫn. Do đó, nắn dòng tín dụng là yêu cầu cấp bách, không chỉ trong giai đoạn hiện nay mà còn phải thực hiện trong cả thời gian dài.
Ông Trần Ngọc Báu, CEO WiGroup cho hay, trong quý I/2026, dòng tiền vẫn tiếp tục chảy mạnh vào nhóm “tín dụng khác” chủ yếu là bất động sản và xây dựng. Trái lại, tín dụng dành cho các hoạt động nền tảng như thương mại và công nghiệp đang trong xu hướng giảm.
Cũng theo ông Báu, mặc dù tín dụng dành cho nông - lâm - ngư nghiệp và thủy sản có ghi nhận mức tăng, nhưng không loại trừ dòng tiền rót vào lĩnh vực này bị “lách luật”. Theo đó, tín dụng nông nghiệp đôi khi thực chất là tín dụng bất động sản (lách bằng cách mua đất đầu tư phát triển nông nghiệp).
Chuyên gia cho rằng, sự bất cập trong cấu trúc tín dụng tạo ra những áp lực chìm khổng lồ và dai dẳng lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng, từ đó trực tiếp làm bất ổn mặt bằng lãi suất. Các biện pháp can thiệp, hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường liên ngân hàng chỉ mang tính ngắn hạn. Mọi thứ chỉ được giải quyết triệt để khi có những chính sách đồng lòng hơn để tái cấu trúc toàn bộ hệ thống.
Việc các nhà băng bơm vốn cho bất động sản là dễ hiểu. Cùng một đồng vốn huy động, nhà băng cho vay sản xuất - kinh doanh chỉ áp dụng lãi suất 8-10%/năm, song cho vay bất động sản có thể có lãi suất lên tới 12-15%/năm.
Chưa kể, hiện nay, hầu hết cổ đông lớn các ngân hàng đều có mối quan hệ chằng chịt với sân sau bất động sản, nên việc ưu ái rót vốn cho bất động sản là đương nhiên. Rõ ràng, để tái cơ cấu cấu trúc tín dụng toàn hệ thống là một vấn đề không đơn giản. Khi nào vấn đề này còn tồn tại, câu chuyện nền kinh tế khát vốn vẫn sẽ diễn ra. Các rủi ro vì vậy cũng luôn thường trực.
Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn hiện khoảng trên 2,8%. Theo ông Đặng Đình Thích, quyền Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), điều đáng lo là nợ xấu đang chịu áp lực gia tăng.
Dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng vẫn trong giới hạn cho phép, song nợ tiềm ẩn và các khoản cơ cấu lại còn lớn. Một phần nợ xấu chưa được phản ánh đầy đủ trong bối cảnh thị trường tài sản biến động, thanh khoản chưa cải thiện và khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế. Ngoài ra, nợ xấu có xu hướng tập trung vào một số lĩnh vực như bất động sản, xây dựng, xuất khẩu.
Rõ ràng, nếu dòng vốn tiếp tục chảy vào các lĩnh vực rủi ro cao mà không phân bổ hiệu quả cho các mục tiêu tăng trưởng mới, thì không chỉ nợ xấu có nguy cơ gia tăng, mà mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới của cả nước cũng khó đạt được.
Dĩ nhiên, bên cạnh tái cấu trúc tín dụng ngành ngân hàng, cũng cần tái cấu trúc thị trường vốn. Ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch HĐQT ACB cho rằng, áp lực lên hệ thống tài chính sẽ tích tụ nhiều hơn nếu cấu trúc vốn không được đa dạng hóa kịp thời.
-
Cuộc đua vốn sẽ quyết định lợi nhuận của các nhà băng -
BIDV khẳng định vị thế, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt - Hàn -
SACOMBANK và Vingroup ký kết hợp tác chiến lược toàn diện -
ĐHCĐ Vietbank: tăng vốn lên 15.500 tỷ đồng, niêm yết trên sàn HOSE trong quý II/2026 -
Gỡ rào cản tín dụng cho nông nghiệp xanh, nông nghiệp số -
ĐHĐCĐ Thuduc House: Thu hồi 60,8 tỷ đồng công nợ, mục tiêu lãi 38,47 tỷ đồng năm 2026 -
ĐHĐCĐ Masan: Đặt mục tiêu doanh thu gần 100.000 tỷ đồng trong năm 2026
-
Canva “đổ bộ” Việt Nam, nhắm tới thị trường 20 triệu thiết kế mỗi tháng -
SeABank thông báo mời thầu -
Dòng tiền “bốn mùa”: Tiêu chí định giá mới của bất động sản nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe -
Phố chợ gỗ mỹ nghệ Đông Giao: Dấu ấn Tây Bắc Group tại vùng đất làng nghề trăm năm -
NCB ra mắt bộ giải pháp giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ tối ưu vận hành, chủ động dòng tiền -
Thêm cơ hội cho thịt gà chế biến Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc

