Thứ Hai, Ngày 26 tháng 10 năm 2026,
Khoảng trống miễn dịch trước căn bệnh não mô cầu nguy hiểm
D.Ngân - 26/10/2026 16:03
 
Dù số ca mắc không nhiều so với các bệnh truyền nhiễm phổ biến, não mô cầu vẫn là mối đe dọa nghiêm trọng bởi khả năng lây truyền từ người lành mang vi khuẩn, diễn biến nhanh và có thể gây tử vong chỉ trong 24 giờ.

Sự xuất hiện của các ổ dịch tại trường học tiếp tục đặt ra yêu cầu tăng cường giám sát, phát hiện sớm và chủ động tiêm vắc-xin phòng bệnh.

Sự xuất hiện của ổ dịch não mô cầu tại một trường học ở TP.HCM vừa qua làm gia tăng lo ngại về nguy cơ lây lan của căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm này, đặc biệt trong môi trường học đường, nơi học sinh thường xuyên tiếp xúc gần và sinh hoạt tập trung.

866315676-1442870701375278-7273247536513396556-n-8843
Bệnh nhi mắc não mô cầu đang điều trị tại cơ sở y tế.

Theo TS.Lê Kiến Ngãi, Trưởng khoa Dự phòng và Kiểm soát nhiễm khuẩn, Bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh do vi khuẩn não mô cầu (Neisseria meningitidis) có tỷ lệ mắc tương đối thấp so với cúm mùa, sởi hoặc sốt xuất huyết. Tuy nhiên, số ca mắc ít không đồng nghĩa với mức độ nguy hiểm thấp, bởi bệnh có thể diễn biến đặc biệt nhanh, gây nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não mủ và đe dọa tính mạng người bệnh chỉ trong thời gian ngắn.

Một trong những đặc điểm đáng lo ngại của não mô cầu là khả năng tồn tại và lây truyền từ những người hoàn toàn khỏe mạnh. Vi khuẩn có thể cư trú tại vùng hầu họng mà không gây triệu chứng, khiến người mang vi khuẩn không nhận biết được tình trạng của bản thân nhưng vẫn có khả năng truyền bệnh cho người khác.

Theo số liệu dịch tễ được Bệnh viện Nhi Trung ương dẫn lại, khoảng 5-10% dân số có thể mang vi khuẩn não mô cầu tại vùng hầu họng mà không có biểu hiện bệnh. Tỷ lệ này ở nhóm thanh thiếu niên có thể lên tới 20-25%.

Vi khuẩn lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc gần với dịch tiết đường hô hấp và nước bọt của người mắc bệnh hoặc người lành mang trùng, chẳng hạn qua ho, hắt hơi, hôn hoặc sử dụng chung những vật dụng tiếp xúc trực tiếp với nước bọt.

Đặc điểm này khiến việc nhận diện nguồn lây trở nên khó khăn. Người mang vi khuẩn có thể tiếp tục học tập, làm việc và sinh hoạt bình thường, trong khi những người tiếp xúc gần chưa có miễn dịch bảo vệ phù hợp vẫn có nguy cơ nhiễm bệnh.

Môi trường trường học, ký túc xá hoặc các khu sinh hoạt tập trung được xem là những địa điểm cần đặc biệt lưu ý. Việc học sinh thường xuyên tiếp xúc trong không gian chung, phòng học kín, sử dụng chung vật dụng cá nhân hoặc có thói quen sinh hoạt gần nhau có thể tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lây truyền.

Cũng theo bác sỹ Lê Kiến Ngãi, trẻ em và thanh thiếu niên có mức độ miễn dịch đối với các nhóm huyết thanh não mô cầu không đồng đều. Sự hiện diện của vi khuẩn trong một tập thể có nhiều người chưa được bảo vệ đầy đủ có thể làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các trường hợp mắc bệnh, thậm chí hình thành ổ dịch.

Nguy hiểm hơn, sau khi xâm nhập qua niêm mạc hầu họng, vi khuẩn có thể vượt qua hàng rào bảo vệ tự nhiên của cơ thể, đi vào máu hoặc hệ thần kinh trung ương, gây nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não. Đây là những thể bệnh xâm lấn có tỷ lệ biến chứng và tử vong cao.

Các bác sỹ của Bệnh viện Nhi Trung ương cho hay, một người trước đó hoàn toàn khỏe mạnh có thể chỉ xuất hiện những biểu hiện ban đầu như sốt, mệt mỏi, đau đầu hoặc đau họng. Tuy nhiên, tình trạng bệnh có khả năng tiến triển nhanh thành nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hoặc viêm màng não mủ.

Ở những trường hợp tối cấp, người bệnh có thể tử vong chỉ trong vòng 24 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng. Ngay cả khi được chẩn đoán và điều trị bằng kháng sinh, tỷ lệ tử vong do bệnh não mô cầu xâm lấn vẫn có thể ở mức 10-15%.

Không chỉ đe dọa tính mạng, căn bệnh này còn để lại những hậu quả lâu dài đối với nhiều người sống sót. Ước tính khoảng 10-20% trường hợp có thể gặp các di chứng nghiêm trọng như suy giảm hoặc mất thính lực, tổn thương não, động kinh, tổn thương thận, thậm chí phải cắt cụt chi do hoại tử.

Những con số này lý giải vì sao não mô cầu luôn được các chuyên gia y tế xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm cần phát hiện và xử trí khẩn cấp, dù số trường hợp mắc được ghi nhận hằng năm không nhiều.

Đặc biệt, triệu chứng ban đầu của bệnh thường không đặc hiệu, dễ nhầm lẫn với cúm mùa hoặc các bệnh nhiễm trùng thông thường khác. Người bệnh có thể sốt cao, đau đầu, mệt mỏi, đau nhức cơ thể trước khi xuất hiện các dấu hiệu nghiêm trọng hơn như cứng gáy, nôn, rối loạn ý thức hoặc ban xuất huyết.

Một số trường hợp xuất hiện các nốt ban tím, ban xuất huyết không mất màu khi ấn, dấu hiệu cảnh báo tình trạng nhiễm khuẩn huyết có thể đang tiến triển nặng. Tuy nhiên, không phải người bệnh nào cũng có đầy đủ những biểu hiện điển hình, đặc biệt ở giai đoạn sớm.

Các bác sỹ khuyến cáo, người có biểu hiện sốt kèm đau đầu dữ dội, cứng gáy, lơ mơ, ban xuất huyết hoặc tình trạng sức khỏe suy giảm nhanh cần được đưa đến cơ sở y tế ngay. Việc chờ đợi các triệu chứng xuất hiện đầy đủ có thể khiến người bệnh bỏ lỡ thời điểm điều trị quan trọng.

Bên cạnh tốc độ diễn biến nhanh và khả năng lây truyền từ người không có triệu chứng, khoảng trống miễn dịch trong cộng đồng cũng là nguyên nhân khiến bệnh não mô cầu vẫn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện các ổ dịch.

Theo TS.Lê Kiến Ngãi, vi khuẩn não mô cầu có nhiều nhóm huyết thanh, trong đó năm nhóm A, B, C, W và Y là những nhóm quan trọng gây bệnh xâm lấn ở người.

Hiện nay, các loại vắc-xin phòng não mô cầu có phạm vi bảo vệ khác nhau tùy theo nhóm huyết thanh. Điều này đồng nghĩa với việc một người đã được tiêm phòng một số nhóm não mô cầu vẫn có thể chưa được bảo vệ trước những nhóm khác.

Trong khi đó, tỷ lệ tiếp cận và hoàn thành các mũi tiêm phòng não mô cầu ở trẻ em, thanh thiếu niên chưa đồng đều. Những người chưa tiêm chủng hoặc chưa được bảo vệ phù hợp với các nhóm huyết thanh đang lưu hành có thể trở thành đối tượng cảm nhiễm, tạo điều kiện cho vi khuẩn tiếp tục lưu hành trong cộng đồng.

Theo các chuyên gia, tiêm vắc-xin là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh não mô cầu xâm lấn và hạn chế những hậu quả nghiêm trọng do bệnh gây ra. Việc lựa chọn loại vắc-xin cần căn cứ vào độ tuổi, tiền sử tiêm chủng, tình trạng sức khỏe và phạm vi bảo vệ đối với các nhóm huyết thanh.

Gia đình nên chủ động tìm hiểu, đưa trẻ đi tiêm phòng theo hướng dẫn chuyên môn, đặc biệt trước thời điểm trẻ bước vào những môi trường sinh hoạt tập trung như nhà trẻ, trường học hoặc ký túc xá.

Việt Nam đã có các loại vắc-xin phòng những nhóm huyết thanh B, BC và A, C, Y, W-135 dành cho trẻ em và người lớn. Trong đó, vắc-xin phòng nhóm B có thể tiêm từ 2 tháng tuổi đến 50 tuổi; vắc-xin nhóm BC dành cho trẻ từ 6 tháng đến 45 tuổi; các vắc-xin phòng nhóm A, C, Y, W-135 có thể sử dụng từ 6 tuần tuổi và một số loại không giới hạn độ tuổi.

Theo bác sỹ của Hệ thống tiêm chủng Long Châu, mỗi loại vắc-xin chỉ phòng ngừa những nhóm huyết thanh nhất định. Vì vậy, người dân cần được tư vấn tiêm phối hợp theo đúng khuyến cáo nhằm mở rộng khả năng bảo vệ trước các nhóm não mô cầu có nguy cơ gây bệnh nặng.

Việc lựa chọn vắc-xin, thời điểm tiêm và lịch tiêm cần căn cứ vào độ tuổi, tình trạng sức khỏe, tiền sử tiêm chủng và những nhóm huyết thanh cần phòng ngừa.

Chuyên gia của Hệ thống tiêm chủng Long Châu cũng đặc biệt lưu ý, phụ huynh không nên chờ đến khi trẻ xuất hiện ban xuất huyết hoặc rối loạn ý thức mới đưa đi cấp cứu. Khi trẻ có các biểu hiện như sốt cao đột ngột, đau đầu dữ dội, nôn ói, cứng cổ, lừ đừ hoặc nổi ban xuất huyết, cần nhanh chóng đưa đến bệnh viện, bởi với bệnh não mô cầu, mỗi giờ chậm trễ đều có thể ảnh hưởng đến cơ hội sống của người bệnh.

Cùng với tiêm chủng, các cơ sở giáo dục cần tăng cường những biện pháp phòng ngừa lây nhiễm, bảo đảm lớp học thông thoáng, vệ sinh các khu vực sử dụng chung và hướng dẫn học sinh duy trì thói quen rửa tay thường xuyên, không dùng chung cốc uống nước hoặc vật dụng có tiếp xúc với nước bọt.

Đặc biệt, việc phát hiện một trường hợp mắc não mô cầu trong trường học cần được xem là tình huống y tế phải xử trí khẩn trương. Cơ sở giáo dục cần phối hợp với cơ quan y tế để xác định những người tiếp xúc gần, giám sát sức khỏe và triển khai các biện pháp dự phòng theo hướng dẫn.

Theo khuyến cáo chuyên môn, những người được xác định có tiếp xúc gần với bệnh nhân mắc não mô cầu xâm lấn cần được đánh giá để sử dụng kháng sinh dự phòng càng sớm càng tốt, lý tưởng trong vòng 24 giờ sau khi xác định ca bệnh.

Biện pháp này nhằm loại bỏ vi khuẩn não mô cầu cư trú tại vùng hầu họng, góp phần giảm nguy cơ xuất hiện các trường hợp mắc bệnh thứ phát. Tuy nhiên, không phải tất cả học sinh cùng trường hoặc người có tiếp xúc thông thường đều cần sử dụng kháng sinh. Việc xác định đối tượng và chỉ định thuốc phải do nhân viên y tế thực hiện, tránh tình trạng tự ý sử dụng kháng sinh không cần thiết.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, tiêm vắc-xin không thể thay thế hoàn toàn việc giám sát và xử trí người tiếp xúc gần sau khi xuất hiện ca bệnh. Hai biện pháp này có vai trò bổ trợ, trong đó tiêm chủng tạo miễn dịch bảo vệ chủ động, còn kháng sinh dự phòng được sử dụng cho những đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm theo đánh giá chuyên môn.

Sự xuất hiện của các ca bệnh não mô cầu trong môi trường học đường tiếp tục cho thấy nguy cơ của một bệnh truyền nhiễm không thể chỉ đánh giá bằng số người mắc. Với khả năng tiến triển nhanh, tỷ lệ tử vong cao và nguy cơ để lại di chứng nặng nề, mỗi trường hợp mắc bệnh xâm lấn đều đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở điều trị, y tế dự phòng, nhà trường và gia đình.

Cảnh báo những dấu hiệu dễ bị bỏ qua của căn bệnh nguy hiểm não mô cầu
Vi khuẩn não mô cầu có thể tồn tại trong vùng hầu họng mà không gây triệu chứng, nhưng cũng có thể dẫn đến viêm màng não, nhiễm trùng huyết và...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư