Báo Đầu Tư
Chủ Nhật, Ngày 08 tháng 11 năm 2026,
Siết quản lý thực phẩm nguy cơ cao, gỡ rào cản cho doanh nghiệp
D.Ngân - 08/11/2026 11:31
  Print
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện phương thức quản lý, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên cơ sở khoa học và phân tích nguy cơ.

Một thị trường thực phẩm an toàn không thể chỉ dựa vào những thủ tục kiểm soát trước lưu hành, mà cần cơ chế quản lý khoa học, minh bạch và hiệu quả.

Với định hướng đổi mới toàn diện, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới giảm rào cản hành chính, nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp và kiểm soát chặt nguy cơ, bảo đảm sự thông thoáng trong kinh doanh luôn song hành với mục tiêu cao nhất là bảo vệ sức khỏe người dân.

Tinh thần ấy đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận, chuyển từ xử lý những hậu quả đã xảy ra sang chủ động phòng ngừa, nhận diện và ngăn chặn nguy cơ mất an toàn thực phẩm từ sớm, từ xa. Không thể tiếp tục duy trì phương thức quản lý bị động, chỉ tập trung xử lý sau khi những sản phẩm kém chất lượng, thổi phồng công dụng hoặc không bảo đảm an toàn đã được lưu hành rộng rãi, gây ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng.

tung-buoc-cong-khai-co-so-vi-pham-an-toan-thuc-pham-a179313
Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được kỳ vọng tạo ra bước chuyển quan trọng về thể chế và tư duy quản lý nhà nước, lấy người dân làm trung tâm phục vụ, lấy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp làm động lực và các tiêu chuẩn khoa học quốc tế làm cơ sở nâng cao chất lượng quản lý.

Tuy nhiên, tăng cường phòng ngừa nguy cơ không đồng nghĩa với việc đặt thêm những rào cản hành chính đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vấn đề cốt lõi là xây dựng phương thức quản lý phù hợp với đặc điểm, tính chất và mức độ nguy cơ của từng nhóm sản phẩm, vừa bảo đảm an toàn thực phẩm, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

Trên cơ sở định hướng này, dự thảo Luật tập trung cải cách phương thức quản lý sản phẩm thực phẩm, hạn chế tối đa những xáo trộn không cần thiết đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Quá trình đổi mới được đặt trên nền tảng khoa học, phù hợp với quy định quốc tế và thực tiễn Việt Nam, hướng tới bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính, đồng thời từng bước loại bỏ những hành vi kinh doanh trục lợi, làm giàu bất chính trên sức khỏe người dân.

Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là thay đổi cơ chế quản lý sản phẩm thực phẩm. Trước đây, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định các sản phẩm thực phẩm bao gói sẵn phải thực hiện chứng nhận hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và đăng ký công bố có thời hạn. Tuy nhiên, trước sự đa dạng ngày càng lớn của các loại thực phẩm, cách thức quản lý này đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.

Để khắc phục, dự thảo Luật quy định ba hình thức quản lý sản phẩm thực phẩm, gồm đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn sản phẩm và miễn đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn sản phẩm. Đồng thời, các sản phẩm đã thực hiện đăng ký bản công bố hoặc công bố tiêu chuẩn sản phẩm sẽ không phải tiếp tục thông báo công bố tiêu chuẩn cơ sở theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

Đối với hình thức công bố tiêu chuẩn sản phẩm, dự thảo quy định áp dụng cho phần lớn các sản phẩm thực phẩm đã qua chế biến, bao gói sẵn; phụ gia thực phẩm; chất hỗ trợ chế biến; hương liệu thực phẩm; dụng cụ, vật liệu và bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm theo điểm b khoản 2 Điều 46 và khoản 2 Phụ lục I của dự thảo Luật.

Điểm đáng chú ý là tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh và lưu thông sản phẩm ngay sau khi hoàn thành việc nộp hồ sơ công bố tiêu chuẩn sản phẩm. Đồng thời, cơ sở phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của hồ sơ cũng như chất lượng và mức độ an toàn của sản phẩm đã công bố, theo khoản 4 Điều 46 của dự thảo.

Cơ chế này tương tự hình thức tự công bố sản phẩm đang được áp dụng theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP. Cơ quan quản lý không thẩm định hồ sơ công bố tiêu chuẩn sản phẩm trước khi sản phẩm lưu hành, mà thực hiện hậu kiểm trên thị trường dựa trên hồ sơ do cơ sở đã công bố. Như vậy, đây là hình thức hậu kiểm thực chất, không phải tiền kiểm dưới hình thức hậu kiểm.

Cùng với việc mở rộng cơ chế công bố tiêu chuẩn sản phẩm, dự thảo Luật cũng quy định cụ thể những trường hợp được miễn đăng ký bản công bố và miễn công bố tiêu chuẩn sản phẩm tại điểm c khoản 2 Điều 46 và khoản 3 Phụ lục I.

Nhóm này bao gồm các sản phẩm không lưu thông trên thị trường, sản phẩm sử dụng để sản xuất nội bộ, những sản phẩm chưa được tiêu chuẩn hóa như thực phẩm tươi sống, thực phẩm sơ chế hoặc chế biến nhỏ lẻ, thực phẩm sơ chế chưa bao gói, thực phẩm được chế biến trong kinh doanh thức ăn đường phố, thực phẩm sản xuất tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, thực phẩm tại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và các nguyên liệu thực phẩm.

Mặc dù được miễn thủ tục công bố, những sản phẩm này vẫn phải đáp ứng các điều kiện về an toàn thực phẩm, điều kiện của cơ sở sản xuất hoặc địa điểm chế biến, đồng thời chịu sự giám sát trong quá trình lưu thông trên thị trường.

So với quy định hiện hành, phạm vi các nhóm sản phẩm được miễn thủ tục trong dự thảo Luật được mở rộng và cụ thể hóa hơn. Đây là một nội dung cải cách hành chính quan trọng, góp phần tạo môi trường kinh doanh thông thoáng nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát an toàn thực phẩm.

Đối với hình thức đăng ký bản công bố sản phẩm, dự thảo Luật quy định nguyên tắc phân loại tại khoản 2 Điều 46, đồng thời ban hành danh mục cụ thể tại Phụ lục I. Các nhóm thuộc diện đăng ký gồm thực phẩm bảo vệ sức khỏe; thực phẩm dinh dưỡng y học; thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt; sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi và thực phẩm bổ sung có công bố khuyến cáo về sức khỏe.

Việc xác định các nhóm sản phẩm này được xây dựng trên cơ sở phù hợp với quy định của Codex, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quản lý tại Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia, Canada và một số quốc gia khác.

Trong quá trình xây dựng dự thảo, cơ quan soạn thảo cũng chú trọng hạn chế phát sinh những nhóm sản phẩm phải thực hiện thủ tục đăng ký so với quy định trước đây, kế thừa bốn nhóm sản phẩm đã được quản lý nhằm tránh gây xáo trộn cho doanh nghiệp trong quá trình thực thi.

Bên cạnh đó, dự thảo tiếp tục kế thừa các quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP về thay đổi, bổ sung thông tin sau công bố. Đối với phần lớn trường hợp thay đổi, bổ sung, doanh nghiệp chỉ cần thực hiện thông báo và được tiếp tục sản xuất, kinh doanh ngay sau khi hoàn thành việc nộp thông báo.

Chỉ những thay đổi liên quan trực tiếp đến bản chất sản phẩm mới phải thực hiện lại thủ tục đăng ký bản công bố, như thay đổi thành phần, hàm lượng hoặc khối lượng các thành phần có tác dụng; dạng bào chế; công dụng; đối tượng sử dụng; liều dùng hoặc lượng dùng khuyến nghị và cơ sở sản xuất.

Cách tiếp cận này vừa bảo đảm kiểm soát những yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng, công dụng và mức độ an toàn của sản phẩm, vừa giảm thiểu thủ tục không cần thiết, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thiết nghĩ, thực phẩm là loại hàng hóa đặc biệt, bởi những tác động đến sức khỏe có thể xuất hiện ngay lập tức nhưng cũng có thể diễn ra âm thầm, kéo dài và ảnh hưởng đến cả một thế hệ. Vì vậy, yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm không dừng lại ở việc kiểm soát chất lượng từng sản phẩm, mà còn gắn với trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững của xã hội.

Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được kỳ vọng tạo ra bước chuyển quan trọng về thể chế và tư duy quản lý nhà nước, lấy người dân làm trung tâm phục vụ, lấy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp làm động lực và các tiêu chuẩn khoa học quốc tế làm cơ sở nâng cao chất lượng quản lý.

Hà Nội triển khai thí điểm Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thực phẩm
Hà Nội triển khai thí điểm Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thực phẩm
Hà Nội triển khai thí điểm hệ thống quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, tập trung vào thịt lợn, với ít nhất 2 chuỗi liên kết...
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư